Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HSST

Ngày: 22 - 8 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lũng.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Trịnh Đình Động;

Ông: Nguyễn Thanh Bình.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án.

Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - KSV.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55 ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Nguyễn Đình K, sinh năm 1976; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Đình Đ (đã chết), con bà Nguyễn Thị H1 (đã chết). Gia đình bị cáo có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1978. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/5/2024 sau đó chuyển tạm giam ngày 26/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Â. Có mặt
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Anh Dương Văn V, sinh năm 1993; Trú tại: thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt
  3. Người làm chứng:
    • - Ông Trần Trung D, sinh năm 1958; Trú tại: thôn V, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt
    • - Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1988; Trú tại: thôn D, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma tuý nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/5/2024, Nguyễn Đình K điều khiển xe mô tô biển số 89C1- 067.87 đi tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi K đi đến đoạn đường bê tông thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên thì nhìn thấy 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ đang đứng ở đường, trông giống người nghiện ma túy nên K lại gần hỏi: “có không để cho cái năm chục” có nghĩa là “có ma túy không bán cho 50.000 đồng”, người đàn ông nói: “có”. K đưa cho người đàn ông 50.000đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho K 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột. K biết là ma túy nên cầm ở lòng bàn tay trái và đi về. Khoảng 12 giờ cùng ngày, K đang đi trên đường bê tông thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện  thì gặp tổ công tác Công an huyện  phối hợp với Công an xã V đi tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn thấy K có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, phát hiện tại lòng bàn tay trái của K 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, K khai là ma tuý mua về để sử dụng. Công an huyện  đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của K: 01 gói giấy màu xanh kích thước (01 x 2,2)cm bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột, được niêm phong trong bì thư ký hiệu (I); 01 chiếc xe mô tô biển số 89C1- 067.87. Cùng ngày, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với K: Kết quả dương tính với chất ma tuý.

Bản Kết luận giám định số 361/KL- KTHS(MT) ngày 20/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu (I), có khối lượng 0,176 gam là ma tuý, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đình K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho K, do K khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện  tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

* Về vật chứng:

  • - H3 lại sau giám định: 0,157g ma tuý, loại Heroine; 01 mảnh giấy; 01 vỏ phong bì trong niêm phong ghi số 361/KL- KTHS(MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H. Hiện được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi.
  • - Đối với chiếc xe mô tô BKS: 89C1-067.87. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên của anh V (là cháu gọi K bằng cậu ruột) cho K mượn để đi lại nhưng K tự ý sử dụng vào việc phạm tội anh V không biết. Ngày 24/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện  đã trả lại chiếc xe trên cho anh V.

Cáo trạng số: 54/CT-VKSAT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Khôi về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

Bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đình K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • - Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình K từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/5/2024.
  • - Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Vật chứng:
    • + Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số: 361/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,157gam ma tuý, loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Â, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Â, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 17/5/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc địa phận thôn V, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Đình K đã có hành Tàng trữ trái phép 0,176 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, ma túy không chỉ làm suy kiệt sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • + Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì.
  • + Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Đình Đ đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Bố vợ bị cáo là ông Lê Thanh S đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và làm nghĩa vụ Quốc tế ở C từ năm 1979 đến năm 1989 và thành tích phục vụ trong Q đã được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; Huân chương chiến công hạng ba và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác mà bị cáo được hưởng thêm qui định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập không ổn định nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Vật chứng của vụ án: Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số: 361/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,157gam ma tuý, loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi)

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • - Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình K 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 17/5/2024.
  • - Vật chứng:
    • + Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số: 361/KL-KTHS (MT), bên trong chứa 0,157gam ma tuý, loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

    (Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ân Thi)

  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
  • - Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - Cq CSĐT-CA huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Ân Thi;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Lũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger