|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Mai Văn Duẩn.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLST- HNGĐ ngày 09/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 05/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1976; có mặt.
- Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, Bắc Ninh.
- - Bị đơn: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1972.
- Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, Bắc Ninh.
- Hiện trú tại: Canada; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận kết hôn năm 1995. Năm 2004, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Khoảng tháng 10/2012, anh T trở lại Việt Nam. Năm 2016, vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2017 đến nay. Khoảng tháng 4/2024, anh T lại sang Canada để lao động. Nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh T có 04 con chung là cháu Phạm Thanh H1, sinh ngày 29/3/1997, cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 29/7/1999; cháu Phạm Thị Quỳnh C, sinh ngày 01/12/2003 và cháu Phạm Tuấn Tài Đ, sinh ngày 15/7/2014. Hiện nay, các cháu H1, T1 và C đều đã đủ 18 tuổi; cháu Đ đang ở với chị H. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho anh T chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; trong thời gian anh T không ở Việt Nam, chị sẽ thay anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, 02 vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ và các nghĩa vụ tài chính khác: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về án phí, chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn là anh Phạm Đức T gửi bản tự khai về Tòa án với nội dung sau: Về quan hệ hôn nhân, anh nhất trí với lời trình bày của chị H. Anh cũng nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng khó có thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị H, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho vợ chồng anh được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 04 con chung, đúng như lời trình bày của chị H tại Tòa án. Hiện nay, 03 cháu đã trưởng thành và có cuộc sống ổn định nên anh không đề nghị giải quyết. Riêng đối với cháu Phạm Tuấn Tài Đ, sinh ngày 15/7/2014, khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu Đ cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Trong thời gian anh T không ở Việt Nam, anh đề nghị Tòa án giao cho chị H thay anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, 02 vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh T2 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đồng thời, anh T2 trình bày do hiện nay anh đang xuất khẩu lao động tại Canada nên đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại tất cả các buổi tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên xét xử do Tòa án triệu tập.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
- Chị Trần Thị H được ly hôn anh Phạm Đức T.
- Về con chung: Giao con chung là Phạm Tuấn Tài Đ, sinh ngày 15/7/2014 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Không đề nghị xem xét, không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2024, chị Trần Thị H đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Phạm Đức T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị H, anh T có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh nhưng tại thời điểm thụ lý vụ án anh T đang sinh sống và làm việc tại Canada. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh của anh T tại Cục Q - Bộ C1 được biết, anh Phạm Đức T đã xuất cảnh lần cuối ngày 08/4/2024 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho nguyên đơn là chị Trần Thị H nhưng chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bản thân bị đơn là anh Phạm Đức T đã có văn bản trình bày ý kiến đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Phạm Đức T kết hôn ngày 07/12/1995, tại thời điểm kết hôn chị H và anh T đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Năm 2016, sau khi anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc về thì vợ chồng anh chị bắt đầu xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ năm 2017 đến nay. Khoảng tháng 4/2024, anh T lại sang Canada theo diện xuất khẩu lao động. Nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Phía bị đơn là anh T nhất trí với đề nghị xin ly hôn của chị H.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Phạm Đức T.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng chị H, anh T có 04 con chung là cháu Phạm Thanh H1, sinh ngày 29/3/1997, cháu Phạm Huyền T1, sinh ngày 29/7/1999; cháu Phạm Thị Quỳnh C, sinh ngày 01/12/2003 và cháu Phạm Tuấn Tài Đ, sinh ngày 15/7/2014. Các cháu H1, T1 và C đều đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét. Riêng đối với cháu Đ, cháu có đơn trình bày nguyện vọng được ở với bố. Đồng thời, chị H và anh T thống nhất đề nghị khi ly hôn giao cháu Đ cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do đó, cần giao cháu Phạm T Tài Đức cho anh Phạm Đức T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: 02 vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không đề nghị giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị H.
- Chị Trần Thị H được ly hôn anh Phạm Đức T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Tuấn Tài Đ, sinh ngày 15/7/2014 cho anh Phạm Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000157 ngày 08/5/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
