|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 54/2024/HSST Ngày 22/4/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Thoại
- Bà Nguyễn Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Thu Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 với bị cáo:
Trần Phi H, sinh năm 1978 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Trần Văn H1; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B(đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hồng T(đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 1997, Công an huyện T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
- Năm 2003, Ủy ban nhân dân thành phố H đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 18 tháng.
- Bản án số 55/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt Trần Phi H 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 20/10/2017. Đã nộp án phí HSST và DSST (Đã được xóa án tích).
- Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HSST ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt Trần Phi H 34 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 07/3/2021. Đã nộp án phí HSST (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 -Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Ngọc A - sinh năm: 1980
Nơi cư trú: TDP A, thị trấn T, huyện G, Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực đường G, thôn B, Đ, G, Hà Nội, tổ công tác Công an xã Đ thuộc Công an huyện G kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trần Phi H đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Ngọc A - sinh năm: 1980, TDP A, thị trấn T, G, Hà Nội. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã Đ lập biên bản bắt người pham tội quả tang.
Vật chứng thu giữ của Trần Phi H: 01 túi ni lông màu trắng kích thước 4cm bên trong có 01 gói giấy màu vàng (loại giấy vỏ bao thuốc lá T) bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 30N4-0463 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh có lắp sim số 0586491955, đã qua sử dụng.
Vật chứng thu giữ của Lê Ngọc A: Số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1 phát hành; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có lắp sim số 0912787680 đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 464/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (để trong 01 túi ni lông) là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,179 gam.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Phi H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Ngọc A khai nhận: Ngày 05/01/2024, Trần Phi H đến khu vực Bệnh viện T2, thuộc phường B, L, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân 01 gói ma túy Heroin với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang về nhà chia nhỏ, sử dụng một lần bằng hình thức hít, số ma túy còn lại H gói vào 01 gói giấy màu vàng bọc trong 01 túi ni lông màu trắng có mép dán mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 13 giờ ngày 05/01/2024, khi H đang ở khu vực T, L, Hà Nội thì Lê Ngọc A sử dụng số điện thoại 0912.787.xxx gọi đến số điện thoại của H 0586.491.xxx hỏi mua 400.000 đồng ma túy Heroin, H đồng ý hẹn gặp tại khu vực đường G, thôn B, Đ, G, Hà Nội để giao dịch mua bán ma túy. H cầm túi ni lông bên trong có gói ma túy heroin được bọc bằng giấy màu vàng cất vào túi quần sau bên trái của H đang mặc và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 30N4-0463 đến khu vực đường G, thôn B, Đ, G để bán ma túy cho Ngọc A. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H gặp Ngọc A, tay trái H lấy gói ma túy trong túi quần sau bên trái chưa kịp đưa ma túy cho Ngọc A thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Phi H, do không rõ nhân thân nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ xử lý.
Đối với Lê Ngọc A là người mua ma túy của bị cáo Trần Phi H, qua xét nghiệm thể hiện Lê Ngọc A âm tính với chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không xem xét xử lý.
Đối chiếc xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 30N4-0463 thu giữ của bị cáo Trần Phi H, qua xác minh chủ sở hữu chiếc xe là ông Trần Văn H1 - Sinh năm: 1953, trú tại: Tổ A, T, L, Hà Nội là bố đẻ của bị cáo Trần Phi H. Ngày 05/01/2024, ông H1 không biết H sử dụng xe để đi bán ma túy. Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu, trả lại chiếc xe máy trên cho ông H1.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh có lắp sim số 0586491955 thu giữ của bị cáo Trần Phi H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có lắp sim số 0912787680 và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc A có liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 60/CT-VKSGL ngày 31 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Trần Phi H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Phi H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phi H từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Cho tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh có lắp sim số 0586491955, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có lắp sim số 0912787680, đã qua sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng là tiền của Lê Ngọc A dùng để thanh toán tiền mua ma túy cho bị cáo H.
Trong phần Tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Phi H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Phi H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực đường G, thôn B, Đ, G, Hà Nội, bị cáo Trần Phi H đang có hành vi bán trái phép 0,179 gam ma túy loại Heroin cho Lê Ngọc A mục đích kiếm lợi thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Do đó hành vi của bị cáo Trần Phi H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015- sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điều 251 BLHS quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 tiền sự đã hết thời hiệu, điều này chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu, đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng cố tình phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù giam nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số lượng ma túy loại Heroine thu giữ của bị cáo cần cho tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền số tiền 300.000 đồng là tiền của Lê Ngọc A dùng để thanh toán tiền mua ma túy cho bị cáo H liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh có lắp sim số 0586491955 thu giữ của bị cáo Trần Phi H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có lắp sim số 0912787680 thu giữ của Lê Ngọc A, quá trình điều tra xác định liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6] Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Phi H 30(Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu tiêu hủy: 01(Một) phong bì niêm phong kín có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên, bị cáo Trần Phi H. Trong gói niêm phong là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,164 gam (đã trích mẫu giám định: 0,015 gam).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, có lắp sim số 0586491955 và 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có lắp sim số 0912787680, đã qua sử dụng. (Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 05 tháng 4 năm 2024).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003881 ngày 12/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Ngọc A có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |
Bản án số 54/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H mua bán trái phép chất ma tuý
