Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-PT

Ngày: 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn và bà Từ Thị Hải Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Cúc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/HS-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Văn T, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1988, tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khóm T, xã L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Lê Thị X; vợ: Nguyễn Thị Huyền T1 và 01 con nhỏ sinh năm 2024; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 10/7/2024 Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Về nhân thân: Ngày 23/9/2012 bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong; Ngày 24/4/2013 bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đã chấp hành xong; Ngày 18/5/2014 bị huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong; Ngày 21/10/2016 bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến ngày 22/02/2025 thì thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có các bị cáo khác, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp, người làm chứng, người phiên dịch nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 20/9/2024, Trần Văn T đến quán T12 (do Tạ Văn T2 làm chủ kinh doanh) hát karaoke đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì về đi ăn tối.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, vợ của T là Nguyễn Thị Huyền T1 nghe tin T hát ở quán T12 nên đến tìm T. Khi đến nơi, T1 nhìn thấy chị Hoàng Thị N ngồi ở ghế salon phía trước bên phải quầy lễ tân theo hướng bên ngoài nhìn vào quán nên đến hỏi chị N về T nhưng chị N không trả lời. Do bực tức nên T1 đến chậu cây ở sân quán lấy 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh cầm ở tay, đứng phía sau lưng chị N đánh 01 cái trúng vào phần đỉnh đầu chị N làm vỏ chai vỡ rơi xuống. Sau khi bị đánh chị N bỏ chạy, T1 tìm kiếm trong các phòng hát nhưng không thấy T nên ra về. Sau khi T1 rời đi, chị N biết được T1 là vợ của T nên điện thoại kể cho Đỗ Thiên V và Tạ Văn T2 nghe sự việc. Khoảng 23 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô chở Nguyễn N1 đi tìm vợ chồng T; cùng lúc này, T2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA HILUXE biển kiểm soát 73C - 170.50 của mình chở Lê P đến nhà T tìm vợ chồng T nhằm mục đích yêu cầu T1 đến xin lỗi chị N1.

Sau khi ăn tối, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MAZDA CX5 màu đỏ BKS 74A - 111.27 theo đường T để về nhà. Khi đến cách nhà mình khoảng 100m thì gặp T1, cả hai lên xe ô tô nói chuyện đến khoảng 00 giờ ngày 21/9/2024 thì V và Nguyễn N1 đến. T và T1 xuống xe gặp V và N1, quá trình nói chuyện, giữa V và vợ chồng T dẫn đến cãi nhau, V lấy 01 dao bấm từ trong túi quần jean đang mặc ra để đe dọa vợ chồng T thì T giằng được vứt ra bãi đất trống bên cạnh. Lúc này, T2 và P đến, giữa T2 và T1 xảy ra mâu thuẫn, T1 tát 01 cái trúng vào mặt T2, do bực tức nên T2 tát lại 01 cái trúng vào má của T1. Thấy T1 bị đánh, T đến dùng tay, chân đánh T2; sau khi bị đánh, T2 chạy đến mở cửa xe ô tô của mình lấy 01 cây rựa xông đến định chém T thì P ôm T2 lại để can ngăn. Thấy vậy, V giật cây rựa trong tay T2 rồi dùng sống rựa đánh 01 cái trúng vào lưng của T. Lúc này, T1 can ngăn nên V, N1 và Phán trở về quán Thiên V1 còn T2 về phòng trọ của mình; T1 về nhà còn T đến nhà anh trai mình là Trần Văn T3 kể sự việc cho T3 nghe và rủ T3 đến quán Thiên V1 tìm T2 nói chuyện thì Thông đồng Ý và lên xe ô tô đi cùng T. Khi cả hai đến đoạn ngã ba ông T4 thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì T dừng xe, đến hàng rào của nhà dân bên đường lấy 01 gậy bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 03cm để vào sàn xe tại vị trí ghế lái rồi tiếp tục chở T3 đến quán T12.

Lúc T vừa chở T3 rời khỏi nhà T3 thì Trần Đình T5 đi qua nhìn thấy nên đuổi theo T; khi đến cổng quán T12, T5 thấy T xuống xe, trên tay cầm gậy gỗ nên dừng lại nhặt 01 gậy tre trước cổng cầm trên tay rồi cùng T3 và T đi vào quán lấy lẽ tấn thì nhìn thấy V, P và Nguyễn N1. Thức hỏi “T2 mô rồi” thì V cầm trên tay 01 cây rựa trả lời “Mi tìm ai”, do bực tức, T cầm gậy gỗ xông vào định đánh V thì V cầm rựa bỏ chạy theo cầu thang lên tầng 2, T đuổi theo đến chân cầu thang, V đứng doạn giữa cầu thang cầm rựa trên tay quơ về phía Thức. T nói “Bỏ rựa xuống, không tao đánh chết”, nghe vậy, V vứt cây rựa đang cầm trên tay qua khe hở giữa tay cầm cầu thang xuống sân tầng 1. Sau đó, T3 xông đến dùng tay đấm 01 cái trúng vào mặt V, T dùng tay trái kẹp cổ Vú lại, tay phải T cầm gậy gỗ đánh theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của V gây thương tích. Nhìn thấy đâu V chảy máu, T3 và T không tiếp tục đánh nữa mà đi xuống đứng ở quầy lễ tân; cùng lúc này, T5 mở cửa các phòng hát ở tầng 1 tìm T2 nhưng không thấy nên đi ra quầy lễ tân rồi cùng T và T3 ra về (việc T và T3 đánh V gây thương tích T5 không biết), V được đưa đi sơ cứu vết thương tại Trạm y tế xã T. Khi về nhà, T sử dụng tài khoản Facebook Teo Tran đăng lên trang Facebook Dinh T6 của Tạ Văn T2 nội dung “riêng thằng thằng ba đồn hôm nay đứng ra đường nửa kéo nghẹt mũi mi ngon thì đừng đó đừng chạy, tau gặp đâu tau đập đó”.

Vào lúc 10 giờ 04 phút ngày 21/9/2024, Hồ Sỹ N2 đọc được dòng trạng thái Thức đăng nói trên nên sử dụng số điện thoại 0904567474 gọi đến số 0396530786 (gắn trong điện thoại di động Iphone màu vàng đồng, số IMEI 353234104475981) của T2 thì nghe T2 kể nội dung mâu thuẫn, N2 hẹn T2 sẽ đến thị trấn L gặp T2.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, Lê P và Nguyễn N1 đến phòng trọ của T2 chơi, lúc này V cũng có mặt tại phòng trọ của T2. Sau đó, P ở lại phòng trọ của T2 còn T2 chở V và N1 đến cầu T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị để gặp Sỹ N2 (đi cùng Sỹ N2 còn có khoảng 06 – 07 thanh niên, T2, V và Nguyễn N1 không quen biết). Tại đây, T2 nhờ Sỹ Nam giải quyết mâu thuẫn với T thì Sỹ N2 đồng ý.

Do không biết nhà của T và T3, khoảng 12 giờ cùng ngày, Tạ Văn T2 điện thoại đến số 0939849777 của Hoàng Văn T7, nhờ chỉ nhà của T. Cùng thời điểm này, Hoàng Văn T7 (làm nghề lái xe dịch vụ) đang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA FORTUNER, biển kiểm soát 74A - 234.09 chở 02 người dân ông (quá trình điều tra không xác định được lai lịch) từ cửa khẩu L2 theo quốc lộ đi thành phố H; khi đi ngang qua quán C2 thì nhìn thấy Tạ Văn T2 nên dừng lại nói chuyện một lúc (Hoàng Văn T7 không biết mâu thuẫn giữa Tạ Văn T2 với T và T3), sau đó tiếp tục điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A - 234.09 chạy phía trước, Tạ Văn T2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73C - 170.50 chở Nguyễn N1 và V, Sỹ N2 đi cùng một số người khác (quá trình điều tra không xác định được phương tiện di chuyển và lai lịch các đối tượng) đi theo phía sau đến nhà T nhưng không gặp nên cả nhóm tiếp tục đến nhà T3. Khi đến nơi, Hoàng Văn T7 điều khiển xe chở khách rời đi, Tạ Văn T2 vào sân nhà thách thức T3 “mi lo đi tìm tau” rồi chở V và Nguyễn N1 để về phòng trọ của T2, trên đường đi thì gặp P nên Nguyễn N1 xuống xe, P chở Nguyễn N1 về nhà P; S và nhóm thanh niên đi cùng rời đi.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, T nghe tin T2 kéo đông người đến nhà T và T3 gây gổ nên đến nhà T3, một lúc sau thì T5 đến, do điện thoại hư nên T mượn điện thoại của T5 liên lạc qua ứng dụng Messenger cho Tạ Văn T2, hẹn gặp T2 tại bãi đất trống thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn H, xã L, tỉnh Quảng Trị) để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn (quá trình nói chuyện T5 không biết giữa T2 và T trao đổi nội dung gì). Sau khi T trả điện thoại, T5 ra về còn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74A - 111.27 một mình đến địa điểm hẹn.

Nhìn thấy T rời đi, T3 vào nhà lấy 01 thanh kim loại bằng sắt hình trụ tròn dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 02cm (loại dụng cụ sửa xe ô tô) giấu vào phía sau cánh tay phải nhằm mục đích tự vệ nếu xảy ra xô xát rồi đi ra trước cổng nhà để đuổi theo T thì nhìn thấy hàng xóm là Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô ngang qua nên nhờ Nguyễn Văn A chở đi tìm T.

Sau khi T3 và Nguyễn Văn A rời đi, con trai của T3 là Trần Văn N3 đến nhà T3 chơi. Khi đến nơi, N3 nghe hàng xóm kể có người đến gây gổ, sau đó T3 vừa chạy theo hướng thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên cũng đuổi theo để tìm T3.

Trần Văn M (em trai T3) nghe tin nên đến nhà T3 nhưng không gặp mà chỉ nghe hàng xóm nói T và T3 đi theo hướng thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị nên lấy xe mô tô của T3 để ở sân nhà đến thôn H.

Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, T5 đi ngang quán T13 khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì nghe một số người nói T đang đến thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị để gặp T2 nên T5 cũng đi tìm T; khi đến đoạn đường L thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì thấy bên đường có 01 gậy bằng tre dài khoảng 70cm, đường kính khoảng 4cm, T5 nhặt lấy cầm trên tay rồi tiếp tục đến thôn H.

Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, T đến địa điểm hẹn nhưng không nhìn thấy T2 nên đến phía trước một nhà dân gần đó (quá trình điều tra không xác định được) lấy 01 cái xẻng và 01 gậy gỗ bỏ vào cốp xe ô tô nhằm mục đích chống trả nếu trên đường về gặp T2 có xảy ra xô xát. Lúc này M vừa đến, do xe hết xăng nên M để xe lại bên lề đường rồi lên xe ô tô của T để quay về.

Khi Nguyễn Văn A chở T3 đến đoạn cầu thôn H thì nhìn thấy T chạy ngược chiều nên dừng xe, T3 đưa cho Anh thanh kim loại đem theo trước đó, A cầm lấy bỏ lên gác trước xe máy còn T3 đến hàng rào nhà dân bên đường nhặt 01 gậy tre dài khoảng 1,5m rồi quay lại ngồi lên xe, cả hai đi theo hướng xe ô tô Thức di chuyển. Lúc này Hồ Văn La H cùng một người thanh niên tên L (quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch) đang đổ xăng tại cây xăng Đ1 ở đoạn quốc lộ I giao với đường L thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì nhìn thấy xe ô tô do T điều khiển chạy qua, do có quen biết với T nên H nhờ L chở đuổi theo xe T để xem.

Cùng lúc này, T2 rủ V đi cùng để giải quyết mâu thuẫn với T thì V đồng ý rồi cùng T2 lên xe biển kiểm soát 73C - 170.50 do một người thanh niên đi cùng Sỹ N2 (quá trình điều tra chưa xác định được) điều khiển, khi lên xe T2 ngồi ghế sau lưng tài xế, V ngồi bên cạnh T2 đến địa điểm hẹn với T. Khi đến ngã ba giao giữa đường L và đường H thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị thì nhìn thấy xe ô tô của T chạy ngược chiều nên chạy đến chặn chếch phía trước đầu xe của T, T2 hạ cửa kính nói to "Hắn đây rồi, hắn đây rồi!", đồng thời lúc này từ phía sau xe ô tô của T và T2 có người ném đồ vật (quá trình điều tra chưa xác định được) về phía nhau trúng vào kính chắn gió phía trước xe ô tô biển kiểm soát 74A - 111.27 của T và xe ô tô BKS 73C - 170.50 của T2 làm cả hai xe đều bị vỡ kính chắn gió. T điều khiển xe chạy thêm khoảng 10m thì dừng lại sát lề đường, lúc này, M nhìn thấy trên ghế xe có 01 thắt lưng bằng da màu đen nên cầm trên tay nhằm mục đích chống trả nếu xảy ra xô xát rồi cùng T chạy bộ đuổi theo phía sau xe ô tô của T2 được khoảng 15m thì quay lại. Lúc này, nhóm của T2 khoảng 06 - 07 người cầm theo gậy, rựa trên tay, T2 và V mỗi người lấy 01 cây rựa để sẵn trên xe bước xuống (rựa T2 để trên xe phục vụ cho việc kiểm tra khi mua bán gỗ) đi về phía nhóm của T. Quá trình di chuyển, T2 nhặt thêm 01 cây rựa nữa trên mặt đường ném về hướng nhóm của T để đe dọa. Thấy vậy, T mở cốp xe biển kiểm soát 74A - 111.27 lấy 01 cái xẻng lấy ở nhà dân tại thôn H trước đó (01 gậy gỗ còn lại rơi ra lúc nào T không biết), M đến hàng rào nhà dân gần đối diện công ty "Đào Viêng" thì nhìn thấy 01 cái xẻng dài khoảng 1,5m nên vứt thắt lưng cầm theo trước đó rồi lấy cái xẻng nói trên quay lại cùng T rượt đuổi đánh trả lại nhóm của T2.

Lúc này, Trần Văn N3 đến dừng xe phía trước cổng công ty Đ2 thì nhìn thấy trên mặt đường gần vị trí N3 đậu xe có 01 cây kiếm dài khoảng 95cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 75cm, bên ngoài có vỏ màu đen nên nhặt lên, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm vỏ kiếm; T5 và T3 cầm gậy tre; Nguyễn Văn A cầm thanh kim loại mà T3 đưa trước đó hô hào, la hét, cùng nhau xông về phía nhóm của Tạ Văn T2.

Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, Trương Thế N4 đi ngang qua thì nhìn thấy nhóm của T và T2 đang rượt đuổi, đánh nhau. Do có mối quan hệ quen biết với T5 nên N4 nhặt 01 gậy sắt, hình trụ tròn, dài khoảng 60cm trên mặt đường chạy đến phía sau lưng, bên phải T5 hỗ trợ cho nhóm của T5. Quá trình rượt đuổi, N4 nhặt thêm 01 cây rựa nữa trên mặt đường cầm trên tay; T5 làm rơi gậy tre nên nhặt 01 thanh kim loại trên mặt đường cùng với nhóm của T tiếp tục rượt đuổi nhóm của T2. Cùng lúc này, Hồ Văn C đến, do có quen biết với T nên C nhặt 01 gậy gỗ dài khoảng 60cm trên mặt đường chạy hùa theo nhóm của T hô hào, la hét, rượt đuổi để đánh nhóm của T2, khi đuổi theo được khoảng 50m thì dừng lại vứt gậy rồi ra về.

Trong quá trình hai nhóm đuổi đánh nhau, T chạy sát mép đường đến đứng đối diện T2, dùng xẻng đang cầm trên tay đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống, T2 đưa hai tay lên đỡ làm xẻng đánh trúng phần đỉnh đầu và mặt ngoài hai cánh tay, sau khi bị đánh T2 thụt lùi và bị trượt chân ngã xuống đường. T tiếp tục dùng xẻng đánh về phía T2 nhưng không trúng mà đập vào mặt đường làm phần lưỡi xẻng bị gãy rơi ra đường, cán xẻng Thức vẫn cầm trên tay, thấy vậy, T3 cầm gậy xông vào đánh 01 cái hướng từ trên xuống trúng vào người T2. V đứng gần đó ném 01 cây rựa đang cầm trên tay về phía nhóm của T, cùng lúc này, xe ô tô biển kiểm soát 73C - 170.50 (chưa xác định được người điều khiển xe) lao vào phía nhóm của T để giải vây cho T2, T2 lùi lại và tiếp tục bị trượt chân ngã xuống đường thì Trần Văn M cầm xẻng xông vào đánh T2 nhưng không trúng, T nhặt 01 gậy gỗ trên đường xông vào đánh nhiều cái trúng vào người T2, T2 lùi về phía xe ô tô của mình rồi bỏ chạy, V vứt rựa lại bên đường rồi nhờ một người không quen biết chở về nhà, những người khác cũng rời đi.

Hai nhóm cầm hung khí la hét, hô hào, ném gạch đá, rựa và xông vào giằng co với nhau, lôi kéo đông người làm các phương tiện di chuyển qua tuyến đường nói trên không lưu thông được tạo ra sự hỗn loạn. Quá trình rượt đuổi, giằng co bắt đầu vào lúc 14 giờ 49 phút, kéo dài khoảng 05 phút đến thời điểm T2 bị đánh bỏ chạy thì kết thúc.

Sau khi nhóm của T2 đi, N3 nhặt 03 cây rựa trên đường cùng cây kiếm đang cầm trên tay quay lại vị trí xe mô tô của mình, vứt kiếm cùng vỏ kiếm vào bụi cây sát tường rào phía trước công ty Đ2 rồi mang theo 03 cây rựa vừa nhặt trước đó bỏ lên gác chân xe mô tô nhằm mục đích đưa về nhà để làm vườn. Trên đường đi do lo sợ bị phát hiện nên N3 đến nhà Trần Văn T3 lấy 01 bao gai màu trắng bọc 03 cây rựa đưa đến vứt vào bụi cây tại khu vực nghĩa địa khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị rồi về nhà ở thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị; Nguyễn Văn A đưa 01 thanh kim loại vừa sử dụng tham gia vào vụ việc và 01 cây rựa vừa nhặt được trên đường đến bỏ vào thùng rác công cộng bên đường rồi điều khiển xe mô tô chở T3 về nhà; những người còn lại vứt hung khí lại đoạn đường nói trên rồi ra về (đối với số hung khí mà N3, Nguyễn Văn A và những người khác vứt bỏ như đã nêu trên, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả). Riêng Trần Văn M do sợ nhóm của T2 quay lại lấy rựa để đánh nhóm mình nên nhặt 04 cây rựa trên đường bỏ vào cốp sau xe ô tô biển kiểm soát 74A - 111.27 đưa về nhà cất giấu đến ngày 22/9/2024 thì đưa cho T giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Ngày 21/9/2024, Sau khi làm việc với cơ quan chức năng, Tạ Văn T2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng màu vàng đồng, số IMEI 353234104475981, bên trong có gắn 01 sim V2 in số 8984048000905738908, 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA HILUXE, số máy 2KDU893509, số khung MR0JS8DD2G0395675, BKS 73C - 170.50, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73 000761 do Công an thị xã B (cũ) cấp ngày 12/9/2024. Ngày 28/9/2024, Trần Văn T tự nguyện giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA CX5, số khung 5726KM025384, số máy PE50237657, BKS 74A - 111.27, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 020984 do Công an tỉnh Q cấp ngày 30/12/2019.

- Đối với các hành vi và đồ vật có liên quan trong vụ việc xảy ra ngày 21/9/2024 tại quán T12:

+ Đối với thương tích của Đỗ Thiên V: Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 217/KLTTCT-TTPY ngày 22/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Thiên V tại thời điểm giám định là 02%. Các tổn thương trên phù hợp với vật tày gây nên. Ngày 09/01/2025, Đỗ Thiên V có đơn yêu cầu không xử lý hình sự nên Công an huyện H đã xử lý theo quy định pháp luật.

+ Đối với 01 cây gậy gỗ hình trụ tròn, dài 60cm, đường kính 03cm Thức dùng để đánh Đỗ Thiên V, sau khi sử dụng, T đưa về vứt tại hàng rào nhà ở của mình đến ngày 22/9/2024 thì giao nộp cho Cơ quan điều tra.

+ Đối với thương tích của chị Hoàng Thị N: Sau khi bị Nguyễn Thị Huyền T1 đánh, chị N khai không bị thương tích, không đến điều trị tại các cơ sở y tế và chị N từ chối giám định pháp y thương tích. Đối với hành vi nêu trên của Nguyễn Thị Huyền T1, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

- Đối với các hành vi xảy ra đêm 20/9/2024, rạng sáng 21/9/2024 tại đoạn đường T thuộc khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị:

+ Đối với thương tích của chị Nguyễn Thị Huyền T1 do Tạ Văn T2 gây ra: chị T1 bị thương tích phần mềm ở vùng miệng và mắt phải chỉ điều trị tại nhà. Ngày 15/10/2024, chị T1 có đơn từ chối giám định pháp y thương tích, yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự đối với T2. Đối với hành vi nêu trên của Tạ Văn T2, Công an huyện H Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

+ Đối với thương tích của T do V gây ra: Do thương tích không đáng kể nên T không đi điều trị tại cơ sở y tế. Ngày 09/01/2025, T có đơn từ chối giám định pháp y thương tích, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự đối với V. Đối với hành vi nêu trên của Đỗ Thiên V, Công an huyện H Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi và vật chứng, đồ vật có liên quan xảy ra ngày 21/9/2024 tại đoạn đường L giao đường H, thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị:

+ Đối với thương tích của Tạ Văn T2: Bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 218/KLTTCT-TTPY ngày 22/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận về thương tích của Tạ Văn T2: Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Văn T2 tại thời điểm giám định là 11%.

Đối với thương tích gãy răng 2.2, T2 khai nhận răng bị gãy trước đó do bị ngã xe máy, Trạm y tế xã T và Trung tâm y tế huyện H cung cấp tại thời điểm xử lý vết thương không ghi nhận thương tích mất răng, đủ cơ sở để kết luận thương tích do mất răng 2.2 của T2 không phải do T và T3 gây ra nên Cơ quan điều tra có Công văn số 12/CV-ĐCSHS ngày 15/01/2025 gửi Trung tâm Pháp y tỉnh Q xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định đối với thương tích mất răng 2.2. của Tạ Văn T2. Công văn số 03/TTPT-GĐ ngày 20/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q trả lời: Căn cứ tại khoản 1.2.1, Mục II, chương 11 Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y: xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể do gãy răng 2.2 bằng 02%. Ngày 29/10/2024, Tạ Văn T2 có đơn yêu cầu không xử lý hình sự nên Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21, 22/QĐ-XPHC ngày 23/02/2025 xử phạt T và T3 theo quy định pháp luật.

+ Đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số loại CX5, số khung 5726KM025384, số máy PE50237657, biển kiểm soát 74A - 111.27, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị Tuyết . Ngày 19/9/2024, chị T8 cho Trần Văn T mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 21/9/2024, chị T8 không biết T điều khiển xe ô tô đi đâu, làm gì nên không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Văn T.

- Tại Bản Kết luận giám định số 281/KL-KTHS ngày 11/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

+ Đối với xe ô tô biển kiểm soát 73C - 170.50: Dấu vết tại cửa trước bên trái do vật có cạnh sắc tác động theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải tạo nên; dấu vết tại nắp capô do vật có cạnh tác động theo chiều hướng từ trên xuống dưới tạo nên.

+ Đối với xe ô tô biển kiểm soát 74A - 111.27: Bản Kết luận định giá tài sản số 52/KL-ĐGTS ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện H kết luận:

Giá trị thiệt hại của 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda, số loại CX5, loại xe: ô tô con, màu sơn đỏ, số khung 5726KM025384, số máy PE50237657, sản xuất năm 2019, biển số đăng ký 74A - 111.27, xe đã qua sử dụng bị hư hỏng tại vị trí phía dưới kính chắn gió phía trước bị nứt, vỡ, kích thước 1,06m x 0,13m là 7.500.000 đồng.

Giá trị thiệt hại của 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại HILUXE, loại xe tải pickup cabin kép, màu sơn Bạc, số máy 2KDU893509, số khung MR0JS8DD2G0395675, sản xuất năm 2016, biển số đăng ký 73C - 170.50, xe đã qua sử dụng bị hư hỏng kính chắn gió cửa trước bên trái có dấu vết móp lún kích thước (4x2)cm, tương ứng với vị trí này phần roăng cao su có dấu vết hằn, rách cao su. Phía trước bên phải nắp capo có dấu vết hằn móp kim loại, kích thước (40x12)cm là 3.900.000 đồng.

Đối với thiệt hại của 02 xe ô tô nói trên, ngày 24/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 48/QĐ-ĐCSHS về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và đã tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết nhưng chưa xác định được bị can nên đã tách để xử lý trong một vụ án riêng biệt theo Quyết định tách vụ án hình sự số 78/QĐ-ĐCSHS ngày 26/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Quảng Trị.

Đối với Hồ Sỹ N2 và các đối tượng khác tham gia cùng Tạ Văn T2 và Đỗ Thiên V vào việc phạm tội: Quá trình điều tra T2 khai sau khi cùng Hồ Sỹ N2 đến nhà T và T3 thì Hồ Sỹ N2 và nhóm thanh niên đi cùng đi đâu T2 không biết; trước và trong thời điểm xảy ra vụ gây rối trật tự công cộng, Nguyễn N1 là người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73C - 170.50 chở T2 và V; tại khu vực đường L giao đường H thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do tình hình lộn xộn, hỗn loạn, T2 không biết Hồ Sỹ N2 và nhóm thanh niên đi cùng có tham gia hay không, không biết những người tham gia cùng mình là ai.

- Đối với lời khai của T2, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra và kết luận như sau:

+ Đỗ Thiên V, Nguyễn N1 và Lê P khai nhận tại thời điểm xảy ra vụ án N1 không có mặt tại hiện trường mà ở nhà của P, người điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73C - 170.50 là một người thanh niên đi cùng Hồ Sỹ N2 (V gặp trước đó tại quán C2). Khi nghe tin T2 bị đánh, Nguyễn N1 đến đưa T2 đi sơ cứu vết thương tại Trạm y tế xã T, tại thời điểm này, T2 chỉ đạo Nguyễn N1 đứng ra nhận là người điều khiển xe ô tô BKS 73C - 170.50 nhưng Nguyễn N1 không đồng ý.

+ Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màn hình cảm ứng màu vàng đồng, số IMEI 353234104475981, bên trong gắn sim di động số 0396.530.786, cài ứng dụng Zalo đăng ký bằng số 0985.016.252, đồng thời thu cơ sở D1 có liên quan xác định được trong khoảng thời gian từ rạng sáng ngày 21/9/2024 đến thời điểm xảy ra vụ án, T2 nhiều lần liên lạc với các số điện thoại cụ thể như sau:

Liên lạc với Hồ Sỹ N2 qua số điện thoại 0904.567.474, tuy nhiên N2 khai nhận sáng ngày 21/9/2024 có liên lạc với T2 để nhờ T2 mua gỗ và hẹn sẽ đến lấy sau chứ không gặp, không tham gia cùng với T2 vào việc phạm tội; Từ ngày 17/7/2025 đến nay, Hồ Sỹ N2 không có mặt tại địa phương nên không thể tiến hành đối chất làm rõ mâu thuẫn trong lời khai giữa T2 và N2 cũng như xác định nhóm đối tượng cùng tham gia trong vụ án.

Liên lạc với Nguyễn Văn C1, sinh năm 1997, trú tại khu phố C, phường Đ, tỉnh Quảng Trị qua số điện thoại 0968365928 và Lê Văn L1, sinh năm 1992, trú tại khóm T, xã L, tỉnh Quảng Trị qua ứng dụng Zalo đăng ký số 0971121717: Cảm và L1 khai có liên lạc nhưng không trao đổi nội dung gì liên quan đến việc phạm tội của T2.

Liên lạc với Hoàng Văn T7 qua số điện thoại 0939849777: Hoàng Văn T7 khai nhận Tạ Văn T2 điện thoại nhờ chỉ địa chỉ nhà của T và T3, ngoài ra không trao đổi nội dung gì liên quan đến việc phạm tội của T2.

+ Xác minh tại quán C2 và trên 02 xe ô tô biển kiểm soát 74A - 111.27, 73C - 170.50 không gắn camera nên không thu thập được hình ảnh có liên quan đến Hồ Sỹ N2 và các đối tượng đi cùng N2.

+ Trích xuất, giám định đối với 03 đoạn camera an ninh và video ghi lại hình ảnh vụ việc tại hiện trường: Các bị cáo đều khai nhận đoạn video ghi nhận đúng hình ảnh các bị cáo, diễn biến vụ án nhưng không nhận ra các đối tượng tham gia cùng Tạ Văn T2 là ai, do không có hình ảnh so sánh nên không giám định được.

Xét thấy Tạ Văn T2, Đỗ Thiên V khai không biết các đối tượng đi cùng Hồ Sỹ N2 có tham gia vào việc gây rối trật tự công cộng hay không; Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết nhưng chưa có cơ sở để kết luận về nhân thân, lai lịch, vai trò của Hồ Sỹ N2 cùng các đối tượng có liên quan nên đã tách hành vi và tài liệu để xử lý trong một vụ án riêng biệt.

Ngoài ra còn thu giữ một số tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án.

Tại bản án số 26/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị quyết định tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến ngày 22/02/2025. Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong hạn luật định, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo (đề ngày 06/10/2025) xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo Trần Văn T có cung cấp thêm các tài liệu chứng cứ: cung cấp thông tin tố giác tội phạm và được Đồn Biên phòng T14, tỉnh Quảng Trị xác nhận; vụ việc hiện đã được Đồn biên phòng T14 khởi tố vụ án; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khởi tố bị can theo quy định của pháp luật; thuộc trường hợp quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Do phát sinh tình tiết mới ở giai đoạn phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa bản án sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận. Xuất phát từ việc mâu thuẫn cá nhân giữa Trần Văn T và Tạ Văn T2 nên chiều ngày 21/9/2024 tại khu vực giao nhau giữa đường L và đường H thuộc khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là khóm V, xã L, tỉnh Quảng Trị) Tạ Văn T2, Đỗ Thiên V có hành vi hô hào, rượt đuổi đánh nhau với Trần Văn T, Trần Văn T3, Trần Văn M, Trần Đình T5, Trần Văn N3, Trương Thế N4, Hồ Văn La H; Nguyễn Văn A và Hồ Văn C. Khi hai nhóm hô hào, rượt đuổi đánh nhau thì Tạ Văn T2 và Đỗ Thiên V sử dụng rựa; Trần Văn T và Trần Văn M sử dụng xẻng; Trần Văn N3 sử dụng kiếm bằng kim loại; Trần Văn T9 cầm gậy tre và T15; Trần Văn T3 cầm gậy tre; Nguyễn Văn A cầm thanh kim loại; Trương Thế N4 cầm gậy sắt, rựa và Hồ Văn C cầm gậy gỗ. Trong quá trình hai nhóm đuổi đánh nhau, T chạy sát mép đường đến đứng đối diện T2, dùng xẻng đang cầm trên tay đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống, T2 đưa hai tay lên đỡ làm xẻng đánh trúng phần đỉnh đầu và mặt ngoài hai cánh tay, sau khi bị đánh T2 thụt lùi và bị trượt chân ngã xuống đường. T tiếp tục dùng xẻng đánh về phía T2 nhưng không trúng mà đập vào mặt đường làm phần lưỡi xẻng bị gãy rơi ra đường, cán xẻng Thức vẫn cầm trên tay; T3 cầm gậy xông vào đánh 01 cái hướng từ trên xuống trúng vào người T2; V đứng gần đó ném 01 cây rựa đang cầm trên tay về phía nhóm của T, T2 lùi lại và tiếp tục bị trượt chân ngã xuống đường thì Trần Văn M cầm xẻng xông vào đánh T2 nhưng không trúng, T nhặt 01 gậy gỗ trên đường xông vào đánh nhiều cái trúng vào người T2, T2 lùi về phía xe ô tô của mình rồi bỏ chạy. Như vậy, bản án sơ thẩm xét xử và tuyên các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử thấy:

Sau khi bị bắt bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có xác nhận của Đ Biên phòng T10 về việc phát hiện tội phạm, liên quan đến hành vi của đối tượng Trần Văn T11 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hiện vụ việc đã được Đồn Biên phòng Thuận khởi tố vụ án; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khởi tố bị can. Như vậy sau khi phạm tội bị cáo đã lập công trong việc giúp đỡ lực lượng chức năng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T; sửa Bản án sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  3. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn T 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời bị cáo bị gian tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến ngày 22/02/2025.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - TAND khu vực 7;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-PT ngày 29/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 54/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger