|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/DS-PT Ngày 10 - 12 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng góp vốn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Phan Hồng Phước;
Bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Hoài Phượng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 40/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025, về tranh chấp quyền sử dụng đất, do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L; địa chỉ: Số nhà C, đường H, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Huyền T và ông Vũ Xuân H; cùng địa chỉ: H T, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C; địa chỉ: Thôn N, phường B, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Văn L trình bày:
Ông Trần Văn L và ông Nguyễn Văn C đã thỏa thuận cùng nhau góp vốn để nhận chuyển nhượng thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, diện tích 138,6m² tại Tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình với giá do ông C thông báo là 1.300.000.000 đồng. Theo đó, mỗi người góp một nửa là 650.000.000 đồng. Ngoài ra, hai bên còn thỏa thuận ông C là người trực tiếp liên hệ với chủ đất bà Đinh Thị K để ký giấy tờ mua đất và liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất sau khi nhận chuyển nhượng.
Quá trình thực hiện, ông L đã giao đủ số tiền 650.000.000 đồng. Ngày 08/5/2022, hai bên có ký Bản cam kết xác nhận về việc góp vốn, số tiền góp, xác định quyền sử dụng chung đối với thửa đất, cũng như việc bàn bạc để thống nhất giá chuyển nhượng lại và chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp. Ngày 17/8/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG 018662 nhưng chỉ mang tên một mình ông Nguyễn Văn C. Ngoài ra, ông C còn hứa khi nào ông L tìm được người có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất thì sẽ phối hợp để làm các thủ tục chuyển nhượng. Từ cuối năm 2023 cho đến nay, ông L đã nhiều lần giới thiệu người có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất nhưng ông C luôn tìm cách trì hoãn, không phối hợp để thực hiện giao dịch như đã cam kết. Hiện tại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc ông L vẫn đang nắm giữ.
Nhận thấy ông C vi phạm thỏa thuận góp vốn, việc thỏa thuận tài sản chung của hai bên không mang lại hiệu quả, nên ông L đã yêu cầu ông C trả lại số tiền góp vốn mua đất là 650.000.000 đồng nhưng ông L vẫn né tránh. Ngày 01/8/2024, ông L đã gửi thông báo bằng văn bản đề nghị hai bên chấm dứt thực hiện thỏa thuận góp vốn do ông C vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận của hai bên làm cho mục đích của việc góp vốn không đạt được, vi phạm cam kết và làm ảnh hưởng quyền lợi của mình nên ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên xử thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 là tài sản chung của ông Nguyễn Văn C và ông Trần Văn L và hai bên được quyền tiến hành thủ tục đăng ký tài sản chung đối với thửa đất trên. Trong trường hợp không thể tiếp tục thực hiện thỏa thuận góp vốn, đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung giữa ông C và ông L là thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, nhưng do thửa đất không đủ điều kiện để chia bằng hiện vật nên buộc ông Nguyễn Văn C phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại toàn bộ số tiền góp vốn nhận chuyển nhượng thửa đất là 650.000.000 đồng.
Ngày 25/02/2025, ông Trần Văn L có Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Tòa án xác định thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 là tài sản chung của ông L với ông Nguyễn Văn C, chỉ yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn C phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại toàn bộ số tiền góp vốn nhận chuyển nhượng thửa đất là 650.000.000 đồng. Tại phiên hòa giải ngày 20/6/2025, ông Trần Văn L bổ sung đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng góp vốn do ông C vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ theo thỏa thuận để làm căn cứ buộc ông C phải thanh toán số tiền 650.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông C thừa nhận quá trình thỏa thuận góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 với ông Trần Văn L vào năm 2022, cũng như các nội dung thỏa thuận theo trình bày của ông L. Theo đó, thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 sau khi nhận chuyển nhượng là tài sản chung, nhưng để thuận tiện cho việc giao dịch sau này hai bên thỏa thuận ông C là người đứng tên trên Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, sau một thời gian giá đất giảm, không bán được, ông L yêu cầu đưa tên ông vào Sổ Đ cùng với ông C là đồng sở hữu. Ông C và ông L đã thống nhất cùng đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Đ để làm thủ tục đăng ký biến động thông tin chủ sở hữu. Theo hướng dẫn của cán bộ Chi nhánh V thì vợ ông L phải làm văn bản từ chối nhận tài sản và xác định thửa đất sau góp vốn là tài sản riêng của ông L. Tuy nhiên, khi ông C vào làm thủ tục thì cán bộ Văn phòng không chấp nhận vì là Bản viết tay của ông L. Đối với yêu cầu xác định thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 là tài sản chung của hai người, ông C đồng ý, nhưng đến thời điểm hiện tại, ông L vẫn chưa cung cấp được tài liệu theo yêu cầu nên các bên chưa thực hiện được việc đưa tên ông L vào Giấy chứng nhận. Đối với yêu cầu trả lại số tiền 650.000.000 đồng, ông C không có ý kiến.
Người làm chứng bà Đinh Thị K xác nhận nội dung:
Vào năm 2022, bà K có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 tại phường N, thành phố Đ với giá theo thỏa thuận là 1.250.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên có ký Hợp đồng đặt cọc và Hợp đồng chuyển nhượng để thực hiện giao dịch. Trên thực tế, mọi chi phí liên quan đến thủ tục chuyển nhượng đều do bà K trực tiếp thực hiện. Sau khi đăng ký biến động về chủ sở hữu bà K mới nhận đủ số tiền theo như thỏa thuận tại hợp đồng. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng, bà K chỉ trực tiếp làm việc với ông Nguyễn Văn C, ngoài ra không làm việc với người nào khác và bà K cũng không biết về việc góp vốn để nhận chuyển nhượng thửa đất của bà.
Với những nội dung trên;
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị đã quyết định:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 117, 207, 208, 357, 422, 423, 427, 357, 468, 504, 507, 512 của Bộ luật Dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L, tuyên hủy hợp đồng góp vốn giữa ông Nguyễn Văn C với ông Trần Văn L theo Bản cam kết ngày 08/5/2022 về việc thỏa thuận góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Buộc ông Nguyễn Văn C phải thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng).
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L về việc xác định thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị thuộc quyền sử dụng chung của ông Trần Văn L và ông Nguyễn Văn C.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 21/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn C kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đúng quy định theo Điều 64; Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Văn L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng góp vốn với ông Nguyễn Văn C. Bị đơn ông C có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại phường B, tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, hai bên thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị), cũng là nơi tồn tại bất động sản là đối tượng của Hợp đồng đang tranh chấp và là nơi thực hiện hợp đồng. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng góp vốn” để thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C:
[2.1] Xem xét Bản cam kết góp vốn:
Theo Bản cam kết ngày 08/5/2022, thể hiện, ông Trần Văn L và ông Nguyễn Văn C cùng góp tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, diện tích 138,6m² tại Tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị với tổng số tiền 1.300.000.000 đồng, trong đó mỗi người góp một nửa (50%) giá trị là 650.000.000 đồng. Ông L đã góp số tiền 650.000.000 đồng và đồng ý để ông C thực hiện toàn bộ các thủ tục liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận. Giấy chứng nhận sau khi được cấp đổi chỉ đứng tên ông Nguyễn Văn C. Theo thỏa thuận, ông L đã nhiều lần trao đổi với ông C để làm thủ tục đăng ký biến động bổ sung thông tin đồng sở hữu tên ông L vào Giấy chứng nhận nhưng ông C đều không thực hiện, đồng thời ông L cũng nhiều lần liên hệ để thông tin cho ông C về việc có người muốn nhận chuyển nhượng thửa đất nhưng cũng không được ông C đồng ý, mục đích của việc góp vốn không đạt được, nên hai bên đã phát sinh tranh chấp. Ngày 01/8/2024, ông L thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hợp đồng góp vốn và yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền góp vốn đã nhận là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 423 Bộ luật Dân sự.
[2.2] Kết quả định giá tài sản:
Chứng thư thẩm định giá đối với thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40 ngày 22/5/2025 của Công ty Cổ phần Đ1 xác định: giá trị của thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, diện tích 138,6m² ở thời điểm tháng 5/2025 là 1.446.210.300 đồng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải hoàn trả số tiền góp vốn là 650.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc chia giá trị tăng thêm của thửa đất. Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo cho bị đơn để thực hiện quyền đưa ra giá của thửa đất nhằm xác định thiệt hại xảy ra nếu có, bị đơn không đưa ra giá là đã từ bỏ quyền lợi của mình theo quy định pháp luật. Các bên không ai có yêu cầu định giá lại.
[2.3] Xem xét yêu cầu hủy hợp đồng góp vốn của nguyên đơn:
Căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên tại Bản cam kết ngày 08/5/2022: “Các bên cam kết sau này khi mua bán phải có sự thỏa thuận chung, lợi nhuận phát sinh được chia đôi theo tỷ lệ góp vốn.”
Xét thấy, sự thỏa thuận giữa ông L và ông C là tự nguyện, không ai bị ép buộc, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; chủ thể trực tiếp giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hình thức của hợp đồng không bắt buộc phải công chứng nên hợp đồng góp vốn có giá trị pháp lý.
Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất thực tế thì thửa đất có giá trị 1.250.000.000 đồng, theo Giấy cam kết là 1.300.000.000 đồng nhưng hiện nay thửa đất có giá trị 1.446.210.300 đồng. Ông C chỉ yêu cầu bị đơn phải hoàn trả số tiền góp vốn là 650.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc chia giá trị tăng thêm của thửa đất. Yêu cầu hoàn trả tiền góp vốn của nguyên đơn nhỏ hơn so với giá trị sau xử lý hậu quả của hợp đồng bị hủy và yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận là có căn cứ.
[2.4] Nguyên đơn ông Trần Văn L rút yêu cầu xác định thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị thuộc quyền sử dụng chung của ông Trần Văn L và ông Nguyễn Văn C, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ phần yêu cầu này là đúng quy định pháp luật.
[3] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp thuận ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn C không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, Điều 207, Điều 208, Điều 423, Điều 427, Điều 504, Điều 507 và Điều 512 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L.
+ Hủy hợp đồng góp vốn giữa ông Nguyễn Văn C với ông Trần Văn L theo Bản cam kết ngày 08/5/2022 về việc thỏa thuận góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
+ Buộc ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn L số tiền 650.000.000 (Sáu trăm năm mươi triệu) đồng.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn L về việc xác định thửa đất số 271, tờ bản đồ số 40, tại phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị thuộc quyền sử dụng chung của ông Trần Văn L và ông Nguyễn Văn C.
3. Về án phí:
3.1. Về án phí sơ thẩm:
+ Buộc ông Nguyễn Văn C phải chịu 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả cho ông Trần Văn L số tiền tạm ứng án phí 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001350 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình cũ (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Quảng Trị).
3.2. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/25E 0000245 ngày 04/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Ông C đã nộp đủ.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả số tiền 6.030.000 (sáu triệu không trăm ba mươi nghìn) đồng cho ông Trần Văn L.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Kim Thương |
Bản án số 54/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Số bản án: 54/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L - Nguyễn Văn C tranh chấp hợp đồng góp vốn
