Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 01-04-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Võ Thị Kiều Loan

Ông Nguyễn Chí Lin

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Trăm - Kiểm sát viên;

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Minh D, sinh ngày 21/8/1998, tại Tiền Giang

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1970 (sống) và bà Lê Thị Kiều T, sinh năm: 1979 (sống); Vợ: Không có; Con: Không có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Minh D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Phân trại tạm giam khu vực huyện Đ – Trại tạm giam Công an tỉnh L). Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lê Văn T1 (V1), sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người chứng kiến:

  1. Nguyễn Khanh H1, sinh năm 2004 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

  3. Hứa Thanh T2, sinh năm 1996. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ nhập lậu chơi tết nên Nguyễn Minh D đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Thái Trị quê tôi”, nhắn tin bằng ứng dụng Messenger liên hệ với tài khoản của một người đàn ông tên Q, không xác định nhân thân, lai lịch, không nhớ rõ tên tài khoản, hỏi mua pháo hoa nổ nhằm mục đích sử dụng chơi Tết Nguyên Đán năm 2025. Đến 08 giờ ngày 16/12/2024, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, gắn biển số 59C2-078.70, đi từ ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đến cầu R, tại khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, tìm gặp Q. Q báo cho D giá mỗi hộp pháo hoa nổ nhập lậu là 750.000 đồng. D đồng ý mua từ Q 06 hộp pháo hoa nổ, với giá là 4.500.000 đồng. Q kêu D đợi tại cầu R rồi rời đi. Khoảng 15 phút sau, Q quay lại mang theo 06 hộp pháo hoa nổ, được chứa trong 01 thùng giấy carton màu nâu giao cho D, D trả tiền cho Q số tiền 4.500.000 đồng. Sau đó, D để thùng carton chứa 06 hộp pháo hoa nổ, để lên ba ga xe mô tô 59C2-078.70, rồi đi về hướng nhà trọ tại ấp B, xã H. Đến 13 giờ 10 phút ngày 16/12/2024, D đi đến khu dân cư A thuộc khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an thị trấn Đ bắt quả tang.

Tang vật tạm giữ:

  • - 05 khối hộp chữ nhật, có kích thước 17,5 x 17,5 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 02 cm và 01 khối hộp chữ nhật có kích thước 16 x 16 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính khoảng 02 cm, được niêm phong gửi giám định.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu bạc, số seri: DX3ZNUA4HG7Y, số máy: MNCF2J/A, số IMEI: 355850083520758.

Tại Kết luận giám định số 7729/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

“Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng 10 kg.

Kèm theo kết luận giám định: Không.

H2 lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định.”

Quá trình điều tra xác định, xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017, do Lê Văn T1 (V) mua vào năm 2020, tại Thành phố Hồ Chí Minh với giá 20.000.000 đồng, khi mua T1 biết rõ xe mô tô không có giấy tờ đăng ký, không làm hợp đồng mua bán. Ngày 16/12/2024, T1 có cho Nguyễn Minh D mượn xe, nhưng không biết xe được D sử dụng để mua pháo hoa nổ.

2

Tại Bản kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

“Xe mô tô biển số 59C2-078.70 gửi giám định có:

  • + Số khung trước giám định: PMSRU120U2YA47017;
  • + Số máy trước giám định: F124 - 147017.
  • - Sau giám định: Số khung và số máy xe mô tô biển số 59C2-078.70 đã bị cắt, dán, hàn ghép không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ.
  • Kèm theo kết luận giám định: (không).
  • H2 lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng gửi giám định./.”

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSĐH ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Minh D về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Nguyễn Minh D gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 và Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2024;

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh D 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 01 tháng 4 năm 2025) để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với 05 khối hộp chữ nhật, có kích thước 17,5 x 17,5 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 02 cm và 01 khối hộp chữ nhật có kích thước 16 x 16 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính khoảng 02 cm: là hàng cấm nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017: kết quả giám định có thấy số khung và số máy xe mô tô biển số 59C2-078.70 đã bị cắt, dán, hàn ghép không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ, kết quả xác minh không tìm thấy dữ liệu đối với biển số xe 59C2-078.70, xe này không rõ nguồn gốc chủ sở hữu, do đó đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017; tịch thu tiêu hủy đối với biển số 59C2-078.70.

3

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu bạc, số seri: DX3ZNUA4HG7Y, số máy: MNCF2J/A, số IMEI: 355850083520758: là tài sản của bị cáo D dùng để liên lạc mua pháo nổ nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Minh D không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn T1 có lời khai đã tự thỏa thuận xong với gia đình bị cáo Nguyễn Minh D liên quan đến xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70 đang bị tạm giữ và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét.

Đối với người đàn ông tên Q bán pháo hoa nổ cho bị cáo D, chỉ có chứng cứ duy nhất là lời khai của bị cáo, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Lê Văn T1 cho bị cáo D mượn xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, T1 không biết D sử dụng xe để đi mua pháo hoa nổ nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đánh giá về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

[2.1]. Hành vi khách quan của bị cáo Nguyễn Minh D đã thực hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2024, do có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ để chơi trong dịp Tết Nguyên Đán năm 2025 nên bị cáo Nguyễn Minh D đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển số 59C2-078.70 đi đến cầu R, tại khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, tìm gặp người tên Q, mua 06 hộp pháo hoa nổ (tổng khối lượng 10

4

kg), với giá là 4.500.000 đồng. Đến 13 giờ 10 phút ngày 16/12/2024, khi D vận chuyển số pháo nói trên đi đến khu dân cư A thuộc khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị bắt quả tang.

[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:

Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Minh D trước tòa hoàn toàn phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thị trấn Đ lập vào lúc 13 giờ 35 phút ngày 16/12/2024; phù hợp với Bản kết luận giám định số 7729/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L; phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: khoảng 08 giờ ngày 16/12/2024, tại khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Minh D có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ có khối lượng là 10 kg. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Minh D theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách của Nhà nước về quản lý pháo hoa nổ, nguy cơ gây tổn hại tài sản và sức khỏe con người, gây mất trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được pháo hoa bị nghiêm cấm tàng trữ, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh D cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án tương xứng với hành vi, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Nguyễn Minh D:

Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh D tàng trữ hàng cấm là pháo nổ có khối lượng 10 kg nhằm mục đích sử dụng, thuộc tình tiết định khung theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự nên xét xử theo khoản điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho bị cáo một phần về hình phạt.

Từ các phân tích trên, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo D còn “có thể bị phạt tiền từ 10.000.000

5

đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Minh D.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Minh D không có thu lợi bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập, xem xét

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn T1 có lời khai đã tự thỏa thuận xong với gia đình bị cáo Nguyễn Minh D liên quan đến xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70 và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đối với 05 khối hộp chữ nhật, có kích thước 17,5 x 17,5 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 02 cm và 01 khối hộp chữ nhật có kích thước 16 x 16 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính khoảng 02 cm: là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017: kết quả giám định có thấy số khung và số máy xe mô tô biển số 59C2-078.70 đã bị cắt, dán, hàn ghép không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ, kết quả xác minh không tìm thấy dữ liệu đối với biển số xe 59C2-078.70, xe có nguồn gốc không hợp pháp, do đó cần tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017; tịch thu tiêu hủy đối với biển số 59C2-078.70.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu bạc, số seri: DX3ZNUA4HG7Y, số máy: MNCF2J/A, số IMEI: 355850083520758: là tài sản của bị cáo D dùng để liên lạc mua pháo nổ nên tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước.

[8]. Đối với người đàn ông tên Q bán pháo hoa nổ cho bị cáo D, không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có chứng cứ duy nhất là lời khai của bị cáo D, không có căn cứ xử lý nên không xem xét.

Đối với ông Lê Văn T1 cho bị cáo D mượn xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, gắn biển số 59C2-078.70, T1 không biết bị cáo D sử dụng xe này để đi mua pháo hoa nổ, không cấu thành tội phạm có liên quan nên không xem xét.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh D phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

6

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự, Điều 38, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Minh D 45 ngày kể từ ngày tuyên án (01/4/2025) để đảm bảo thi hành án.

3. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 05 khối hộp chữ nhật, có kích thước 17,5 x 17,5 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 02 cm và 01 khối hộp chữ nhật có kích thước 16 x 16 x 10 cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu, có in chữ nước ngoài, bên trong chứa 49 khối hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính khoảng 02 cm; 01 biển số 59C2-078.70.
  • - Tịch thu bán thu tiền nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuky, loại Sport, màu đỏ trắng, số khung PMSRU120U2YA47017, số máy F124147017; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 7, màu bạc, số seri: DX3ZNUA4HG7Y, số máy: MNCF2J/A, số IMEI: 355850083520758
  • (Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 89-07/03/2025 ngày 07/3/2025)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh D nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

7

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Linh Duy

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về vụ án hình sự về tội tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger