Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 54/2025/HSST

Ngày 27 - 03- 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn; ông Nguyễn Văn Hoằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXX-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với:

+ Bị cáo: Nguyễn Thái S, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số B P, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công T và bà Bùi Thị M; vợ: Phạm Thị H; con: Có 02 con( lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; n hân thân: Ngày 22/12/2022 bị Công an quận H, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn L, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn L, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam (đều vắng mặt);

* Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần Đ2; địa chỉ: Số G ngõ B Miếu H, D, quận L, thành phố Hải Phòng. Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H1 - Giám đốc; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm A, thôn L, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 01/8/2024, Nguyễn Thái S có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC, điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C-198.78 kéo theo rơ mooc BKS 15R-112.86 từ cảng C, tỉnh Quảng Ninh đến Khu công nghiệp Đ thuộc Tổ dân phố V, phường Đ để giao hàng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi giao hàng xong, S điều khiển xe ô tô 15C-198.78 kéo theo rơ mooc 15R-112.86 đến đoạn đường N, KCN Đ II thuộc địa phận tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D và đỗ xe tại làn đường dành cho xe thô sơ hướng Khu C - Vực Vòng. Sau đó S đi bộ đến quán cơm để ăn cơm rồi quay lại, lên xe ô tô nằm ngủ.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/8/2024, anh Nguyễn Trường G điều khiển xe mô tô Wawe RSX, BKS 90D1-017.45 đi từ công ty H3 thuộc Khu công nghiệp Đ về nhà. Khi đi đến đường N, phường Đ, thị xã D, hướng KCN Đ - Vực Vòng, xe mô tô 90D1 - 017.45 do anh G điều khiển đã đâm vào góc phía sau bên trái rơ mooc 15R- 112.86 đang đỗ bên phải phía trước cùng chiều, khiến phần đầu xe mô tô cắm thẳng đứng mắc kẹt vào phần sau rơ mooc, anh G bị ngã xuống đường. Hậu quả: Anh Nguyễn Trường G bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3, tỉnh Hưng Yên sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh H tiếp tục cấp cứu, điều trị đến ngày 26/8/2024 thì ra viện.

Kiểm tra nồng độ cồn thời điểm tham gia giao thông ngày 02/8/2024 kết quả: Nguyễn Thái S không có nồng độ cồn.

* Khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại đường N thuộc TDP V, phường Đ, thị xã D. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có hai chiều đường, chiều rộng mặt đường là 14m25. Theo chiều KCN Đ II đi V, làn đường dành cho xe thô sơ có chiều rộng là 3m40, làn đường dành cho xe cơ giới bên phải có chiều rộng là 3m60, phân chia hai làn đường là vạch sơn màu trắng, nét liền rộng 0m20. Chiều đường V đi KCN Đ II có chiều rộng là 6m90 được phân chia bằng vạch sơn màu vàng, nét đứt rộng 0m15. Tiếp giáp với mép đường là rãnh thoát nước rộng 0m30 và vỉa hè rộng 3m00. Đoạn đường xảy ra tai nạn không có hệ thống báo hiệu đường bộ. Tại vị trí ô tô đỗ không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía trước và sau xe. Mốc của hiện trường là điểm tiếp giáp giữa mặt trước và mặt bên trái trụ cổng gần nhất (góc nhìn từ mặt đường vào) công ty TNHH H4. Tất cả các số đo đều được đo vuông góc với mép đường bên phải đường N - Vực Vòng và được đánh số thứ tự lần lượt từ (1) đến (4). Cụ thể như sau:

Dấu vết (1) là xe mô tô BKS 90D1-017.45, xe (1) bị kẹt vào thanh kim loại chắn gầm thùng xe rơ mooc 15R-112.86, xe mô tô bị kẹt dựng thẳng, đầu xe hướng về phía KCN Đ II. Đo từ tâm trục bánh sau xe (1) vào mép đường được số đo là 2m45. Dấu vết (2) là vùng máu có kích thước (0,80x0,70)m. Đo từ tâm vùng (2) vào mép đường được số đo là 1m30. Dấu vết (3) là vùng nhựa vỡ, bụi đất rơi vãi, có kích thước (1,50x1,40)m. Đo từ tâm vùng (3) vào mép đường được số đo là 2m43. Dấu vết (4) là xe ô tô đầu kéo BKS 15C-198.78, kéo theo rơ mooc BKS 15R - 112.86. Xe (4) đỗ trên đường N, đầu xe hướng về phía Vực V, đuôi xe hướng về phía KCN Đ II. Đo từ mặt ngoài má lốp tâm trục bánh ngoài cùng, sau cùng bên phải rơ mooc xe (4) vào mép đường được số đo là 0m40. Đo từ tâm trục bánh sau cùng bên phải rơ mooc xe (4) về phía Vực Vòng 9m00 theo chiều vuông góc là tâm trục bánh sau cùng bên phải xe ô tô đầu kéo. Đo từ mặt ngoài má lốp tâm trục bánh sau ngoài cùng, sau cùng bên phải của đầu kéo (4) vào mép đường được số đo là 0m40. Đo từ mặt ngoài má lốp tâm trục bánh trước bên phải đầu kéo (4) vào mép đường được số đo là 0m55.

Khám nghiệm phương tiện: Khám xe mô tô BKS 90D1-017.45: Ghi đông (tay lái) bị đẩy ép từ trước ra sau làm phần đầu xe bị biến dạng, ốp nhựa xung quanh tay lái và bảng đồng hồ công tơ mét bị dập vỡ nhiều đường, trà sạt nham nhở trên diện (33x7)cm, hướng từ trước về sau. Cụm đèn pha, xi nhan bị gẫy các chốt hãm, bật rời khỏi vị trí ban đầu còn dính lại trên thân xe bằng các dây dẫn điện. Bề mặt ngoài của pha đèn có vết trượt sạt nhựa trên diện (13x5)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 100cm. Ốp nhựa phía trước cổ xe (mặt nạ) có diện dập vỡ, trà sạt bám bụi màu đen theo nhiều hướng trên diện (25x23)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 69cm., điểm gần nhất sát với vị trí cuối, dưới mặt nạ này. Cánh yếm chắn gió phía bên phải bị dập vỡ, trà sạt trên diện (16x10)cm hướng từ trước về sau, điểm gần nhất cách cạnh trên của cánh yếm này là 21cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 63cm. Cánh yếm chắn gió bên trái có đường vỡ, tách KT(9,5x0,3)cm, hướng từ trên xuống dưới, điểm gần nhất cách cạnh trên cách yếm 31cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 65cm. Đầu cung chắn bùn bánh trước phía trước có vết mài sạt, vỡ tách nhựa KT(26x3,5)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 51cm. Bề mặt lăn và má lốp bên phải bánh trước có vết mài sạt bám bụi màu trắng trên diện (35x6)cm, hướng ngược chiều tịnh tiến bánh xe, từ mặt lăn vào tâm trục, điểm gần nhất cách chân van 50cm theo chiều tiến của xe. Bề mặt lăn và má lốp bên trái bánh trước có vết mài sạt bám bụi màu trắng trên diện (50x4)cm, hướng từ mặt vào tâm trục, điểm gần nhất cách chân van 37cm theo chiều tiến của xe.

- Khám xe ô tô BKS 15C - 198.78, kéo rơ mooc 15R - 112.86: Toàn bộ phần đầu, thành xe bên trái và bên phải ô tô đầu kéo và thành hai bên sơmi rơmoóc không phát hiện thấy dấu vết liên quan đến tai nạn giao thông.

Mặt ngoài phía sau bên trái cạnh đứng sàn thùng xe có vết trượt sạt mới sạch bụi bóng, ướt có bám tổ chức nghi mô, da cơ trên diện (10x6)cm, hướng trượt từ trên xuống dưới, điểm gần nhất cách cạnh thành bên trái thùng xe 16cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 137cm.

Bề mặt ngoài phía sau bên trái và cạnh phía dưới của tấm ốp kim loại bảo vệ phía sau, bên dưới sàn thùng xe có diện trượt sạt theo hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới trên diện (30x8)cm, điểm gần nhất cách thành xe bên trái 6cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 102cm, trên diện này còn bám dính các chất màu đen và trắng nghi sơn, nhựa.

Bề mặt ngoài đầu thanh kim loại bảo hiểm phía sau rơ mooc bên trái có diện trà sạt bám chất màu đỏ nghi sơn trên diện (31x12)cm, hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái, điểm gần nhất cách đầu thanh kim loại 4cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 69cm.

Trục lốp bánh kép thứ 3 bên trái tính từ trước về sau có khe hở giữa 2 lốp bánh xe là 10cm. Bề mặt má lốp tiếp giáp giữa 2 bánh xe trong và ngoài đều có cùng một diện tương ứng trà sạt, sạch bụi mới KT(35x11)cm, hướng từ mặt lăn vào tâm trục, điểm gần nhất của vết này đo theo chiều tiến của xe chiếu vuông góc ra má ngoài, lốp bên ngoài 18cm là số “6” của hàng chữ số: “JPA06” dập nổi ở má lốp.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô BKS 15C-198.78, kéo rơ mooc BKS 15R- 112.86; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Công ty cổ phần Đ2; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ mooc, sơ mi rơ mooc mang tên Công ty cổ phần Đ2; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0316568; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0316567; 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Thái S; 01 xe mô tô Honda RSX, BKS 90D1-017.45

Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô BKS 15C - 198.78, kéo theo rơ mooc BKS 15R - 112.86 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe cho đại diện theo pháp luật của công ty Đ2 là bà Bùi Thị Thanh H1 - SN 1985 ở TDP I, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng và trả lại xe mô tô BKS 90D1 017.45 cho anh Nguyễn Trường G.

Tại Kết luận Giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 249/KLTTCT- TTGĐYK&PY ngày 03/10/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trường G tại thời điểm giám định là 03%

Tại Kết luận Giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 303/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 06/12/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trường G tại thời điểm giám định là 79%

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thái S đã đã bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Trường G số tiền 50.000.000 đồng.

Cáo trạng số 47/CT-VKS – DT ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; miễn hình phạt bổ sung; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 02/8/2024 tại đường N, TDP V, phường Đ, thị xã D, Nguyễn Thái S điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C - 198.78 kéo theo rơ mooc BKS 15R - 112.86, đỗ xe không sát lề đường bên phải theo chiều đi của mình (cách mép đường 40cm), không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía trước và sau xe ô tô, dẫn đến việc anh Nguyễn Trường G điều khiển xe mô tô BKS 90D1 - 017.45 đi từ phía sau cùng chiều đã đâm vào phía sau bên trái rơ mooc 15R - 112.86. Hậu quả: anh G bị tổn hại 79% sức khỏe.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thái S gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô, đỗ không sát lề đường bên phải theo chiều đi của mình, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm phía trước và sau xe ô tô, vi phạm Điều 18; Điều 19 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm 01 người bị thương tổn hại 79% sức khoẻ đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có thân nhân xấu; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho người bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi đi thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, đi sai làn đường nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy xét không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về hành vi khác: Trong vụ án này anh Nguyễn Trường G cũng có một phần lỗi đi thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và đi sai làn đường, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Đ4 - Công an thị xã D để xử phạt vi phạm hành chính đối với anh G là đúng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay không có yêu cầu gì; các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Nguyễn Thái S cần trả lại cho bị cáo. Đối với các vật chứng, tài sản khác đã được giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, các đương sự thực hiện theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Về hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Nguyễn Thái S 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thái S cho Ủy ban nhân dân phường H, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Nguyễn Thái S: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Thái S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TRẦN NGỌC THUẬN

, con: Chưa có; tiền án: Ngày 15/6/2020 bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2021), ngày 22/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2023); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/7/2013, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xử phạt 38 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2015; bị bắt tạm giữ ngày 20/8/2024, chuyển tạm giam ngày 29/8/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Trường G1, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hoàng Tiến H2, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn V đã nảy sinh ý định đi lấy trộm tài sản của người dân. Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 17/8/2024, Nguyễn Văn V điều khiển xe môtô Dream, BKS 29Y3 - 130.27 đi từ nhà đến Bệnh viện Đ5 - Đ thuộc tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D gửi xe ở nhà xe của Bệnh viện. Sau đó, V đi bộ ra ngoài, cách bệnh viện khoảng 200 m thì phát hiện tầng 1 nhà anh Hoàng Tiến H2 đóng cửa và tắt điện, tuy nhiên cánh cửa ban công tầng 2 của gia đình anh H2 vẫn mở. Thấy vậy, V đi đến bám vào cột bê tông của nhà kế bên rồi trèo lên ban công tầng 2 vẫn mở. V đi vào trong phòng tầng 2 thấy bên trong không có người, V đến vị trí bàn trang điểm mở ngăn kéo lục tìm tài sản nhưng không có tài sản gì. V đi lối cầu thang lên tầng 3 thì thấy cửa căn phòng phía bên tay trái đang mở, V đi vào trong phòng thì thấy anh Vũ Trường G1 (là người làm thuê cho anh H2) đang nằm ngủ dưới nền nhà. Do có ánh sáng từ đèn đường ở phía ngoài chiếu vào phòng nên V nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của anh G1 đang để ở vị trí dưới nền nhà, cách người anh G1 đang nằm ngủ khoảng 40 cm. V đi vòng qua đầu của anh G1 tiến đến vị trí để chiếc điện thoại rồi dùng tay trái cầm chiếc điện thoại lên và bấm nút để tắt nguồn. V cất chiếc điện thoại vừa lấy được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi ra khỏi phòng theo lối cầu thang xuống tầng 1. V vào khu vực để xe của gia đình anh H2 nhưng không lấy trộm được tài sản gì. Sau đó, V đi lên tầng 2 ra ban công, trèo xuống dưới theo lối đã trèo vào rồi V đi bộ về bệnh viện Đ5 - Đ, lấy xe mô tô đã gửi ở đó rồi đi về. Khi đi đến cầu N thuộc địa phận phường D, thị xã D, V tháo sim và vỏ ốp điện thoại của chiếc điện thoại Iphone 8 Plus vừa trộm cắp được vứt xuống dưới sông và đem chiếc điện thoại trên về cất giấu tại phòng ngủ của mình ở thôn N, xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Sau đó, đã bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động Iphone 8, màu trắng, bản 64 GB có số IMEI 35 483309 8672682; 01 xe môtô Dream, BKS 29Y3-13027, Số khung RLHHA0807AY316129; số máy HA08E1615729; 01 đĩa CD lưu trữ bên trong 01 đoạn video thể hiện hành vi lục, tìm tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V được trích xuất từ Camera của nhà anh Hoàng Tiến H2.

Tại Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐ ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã D kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, bản 64GB, vỏ màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 2.300.000 đồng, 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu trắng hồng có giá trị 10.000 đồng. Tổng giá trị là 2.310.000 đồng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS 29Y3-13027, quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô trên không phải là tang vật trong vụ án nào, chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn Đ1 (bố đẻ của Nguyễn Văn V). Việc V tự ý lấy chiếc xe trên để sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội ông Đ1 không biết. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Đ1 chiếc xe trên.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 8, màu trắng, bản 64 GB có số IMEI 35 483309 8672682, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Vũ Trường G1.

Đối với chiếc sim trong điện thoại Iphone 8 plus và chiếc ốp điện thoại mà Nguyễn Văn V khai đã tháo ra vứt xuống sông ở khu vực cầu N thuộc địa phận phường D, thị xã D, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với 01 đĩa CD lưu trữ bên trong 01 đoạn video thể hiện hành vi lục, tìm tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V được trích xuất từ Camera của nhà anh Hoàng Tiến H2 được chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Trường G1 đã nhận lại chiếc điện thoại di động Iphone 8 plus, màu trắng, bản 64 GB và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 163/CT-VKS - DT ngày 08/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Văn V mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa còn đưa ra quan điểm về trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì; Ông Nguyễn Văn Đ1 có mặt không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 17/8/2024, lợi dụng sơ hở cửa nhà phía trước tầng 2 không đóng của nhà anh Hoàng Tiến H2 ở tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, Nguyễn Văn V đã trèo tường lên tầng 2 nhà anh H2 rồi đi lên phòng tầng 3 trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu trắng, có trị giá 2.310.000 đồng của anh Vũ Trường G1.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó tại bản án gần nhất số 51/2022/HSST ngày 22/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với bị cáo đã xác định là tái phạm nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng không chịu tu dưỡng, cải sửa nên HĐXX cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc để cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục thành công dân tốt. Điều đó phù hợp với quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát đưa ra cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 đĩa CD lưu trữ bên trong 01 đoạn video thể hiện hành vi lục, tìm tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V được trích xuất từ Camera của nhà anh Hoàng Tiến H2 cần lưu giữ tại hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.

Ngoài ra các vật chứng khác đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn V 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD lưu trữ bên trong 01 đoạn video được trích xuất từ Camera của nhà anh Hoàng Tiến H2.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp số tiền 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX Duy Tiên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tươi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 54/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái S phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger