trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/DS-ST

Ngày: 26/03/2025

“V/v: “Tranh chấp phân chia

di sản thừa kế"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà

Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 08/2019/TLST – DS ngày 20/02/2019 về “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-DS ngày 26/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2024/QÐST-DS ngày 05/12/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số: 08/TB-TA ngày 14/03/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị M ủy quyền cho ông Nguyễn Khắc K (theo giấy ủy quyền tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ ngày 28/02/2019).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1: Luật sư Vũ Viết T1 và Luật sư Bùi Thị T2 – Công ty L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1946.
  2. Trú tại: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

  3. Ông Nguyễn Khắc K, sinh năm 1956
  4. Trú tại: Số A, tổ A, khu T, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội.

  5. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965.
  6. Nơi đăng ký HKTT: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

    Hiện cư trú tại: thôn A, Đ" xã Đ, tỉnh Đăk Nông.

  7. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1972.
  8. Trú tại: thôn C, xã N, huyện C, TP Hà Nội.

    Bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 đều ủy quyền cho ông Nguyễn Khắc K.

  9. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1964 (vợ ông T)
  10. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1986 (con ông T + bà M1)
  11. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988 (con ông T + bà M1)
  12. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1991 (con ông T + bà M1)
  13. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 2002 (con ông T + bà M1)
  14. Đều cư trú: thôn Q, xã P, huyện C, Hà Nội.

    Bà Nguyễn Thị M1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T.

  15. Bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1953 - chết năm 2024)
  16. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5:

    1. Ông Đỗ Hữu B, sinh năm 1953 (chồng bà T5)
    2. Trú tại: thôn Q, xã P, huyện C, TP Hà Nội.

    3. Chị Đỗ Thị H3, sinh năm 1974 (con bà T5 + ông B)
    4. Trú tại: thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội.

    5. Chị Đỗ Thị H4, sinh năm 1981 (con bà T5 + ông B)
    6. Trú tại: thôn Q, xã P, huyện C, TP Hà Nội.

    7. Chị Đỗ Thị Đ, sinh năm 1983 (con bà T5 + ông B)
    8. Trú tại: thôn D, xã L, huyện C, TP Hà Nội.

    9. Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1985 (con bà T5 + ông B)
    10. Trú tại: thôn T, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.

    11. Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1987 (con bà T5 + ông B)
    12. Trú tại: thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội.

    13. Anh Đỗ Hữu Q, sinh năm 1991 (con bà T5 + ông B)
    14. Trú tại: thôn Q, xã P, huyện C, TP Hà Nội.

Tại phiên tòa:

+ Có mặt: Ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1, Luật sư Vũ Viết T1 và Luật sư Bùi Thị T2.

+ Vắng mặt: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5 bao gồm: Ông Đỗ Hữu B, chị Đỗ Thị H3, chị Đỗ Thị H4, chị Đỗ Thị Đ, chị Đỗ Thị N, chị Đỗ Thị N1, anh Đỗ Hữu Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị M do ông Nguyễn Khắc K là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Cụ Nguyễn Văn N2 (sinh năm 1914 - chết năm 1990) và cụ Tống Thị G (sinh năm 1913 - chết năm 1995) sinh được 02 người con bao gồm: Bà Nguyễn Thị K1 và bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1953 – chết năm 2024). Cụ Nguyễn Văn N2 và cụ Vương Thị L (sinh năm 1929 - chết năm 2013) sinh được 05 người con là ông Nguyễn Khắc K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị T3.

Theo bà Nguyễn Thị M, khối tài sản là thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội có nguồn gốc là do ông cha đời trước để lại cho cụ Nguyễn Văn N2 (Bố bà M). Sau khi được cho, ông N2 xây dựng trên đất là 01 nhà ngói 04 gian, diện tích 40m², sân gạch, bếp.

Năm 1990, cụ Nguyễn Văn N2 chết thì bà Nguyễn Thị M vẫn tiếp tục ở cùng với cụ Vương Thị L. Khi đó các anh chị em bà đã trưởng thành, lập gia đình và ra ở riêng. Trong quá trình ở trên đất, bà M là người nộp thuế quyền sử dụng đất cho đến năm 2008.

Năm 2000, sau khi thỏa thuận với các anh chị em trong gia đình thì anh trai bà là ông Nguyễn Văn T cùng vợ con chuyển đến ở tại căn nhà 04 gian lợp ngói. Việc thỏa thuận có nội dung: Ông Nguyễn Văn T phải xây dựng cho cụ Vương Thị L và bà Nguyễn Thị M 01 nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích khoảng 70m² đất. Nhưng khi ông T đang xây thì dừng lại không tiếp tục xây dựng như đã thỏa thuận trước đó nên bà M phải đứng ra tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà cấp 4 và công trình phụ trên diện tích đất khoảng 70m².

Năm 2008, cụ Vương Thị L có nguyện vọng cho bà M 144m² đất và cho ông T 188m² đất và để lại 30m² đất để làm ngõ đi chung. Nguyện vọng của cụ Vương Thị L được thể hiện tại đơn đề nghị ngày 30/10/2008 (có xác nhận của trưởng thôn là ông Đỗ Hữu T6 – BL 10).

Năm 2013, cụ Vương Thị L chết. Sau khi cụ L chết thì giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn T phát sinh mâu thuẫn nên ông T không muốn cho bà M ở trên diện tích đất mà trước đó bà M và cụ L ở.

Cụ Tống Thị G (chết năm 1995), cụ Nguyễn Văn N2 (chết năm 1990) và cụ Vương Thị L (chết năm 2013), khi chết các cụ đều không để lại di chúc và không lập bất cứ văn bản nào định đoạt đối với khối tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Nay, những người thừa kế của 03 cụ không thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế. Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp nếu có thỏa thuận, bà M yêu cầu được quyền sử dụng toàn bộ diện tích theo hiện trạng như hiện nay bà M đang sử dụng.

* Tại buổi hòa giải ngày 20/11/2019, ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị M) và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 trình bày:

Đến nay, Ông Nguyễn Khắc K đại diện cho Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 đã thống nhất: Với mong muốn để giữ gìn đoàn kết nội bộ trong gia đình và để bảo đảm quyền lợi của bà M là người khuyết tật ông Nguyễn Khắc K có ý kiến các em ông K đã thống nhất ông T, bà M1 chia cho bà M chiều rộng mặt đường là 7,0m và chiều dài là 10,88m, nếu bên bị đơn không đồng ý thì sẽ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn – ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 là các con ông T, bà M1) trình bày:

Cụ Nguyễn Văn N2 (sinh năm 1914 - chết năm 1990) và cụ Tống Thị G (sinh năm 1913 - chết năm 1995) sinh được 02 người con bao gồm: Bà Nguyễn Thị K1 và bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1953 – chết năm 2024). Cụ Nguyễn Văn N2 và cụ Vương Thị L (sinh năm 1926 - chết năm 2013) sinh được 05 người con là ông Nguyễn Khắc K, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T3. Ngoài ra các cụ không có con nuôi hay con riêng nào khác. Cụ N2, cụ G và cụ L khi chết đều không để lại di chúc hay di nguyện nào.

Khối tài sản là thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² tại địa chỉ thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội có nguồn gốc là do Ủy ban nhân dân xã P cấp cho gia đình cụ Nguyễn Văn N2 (bao gồm cụ N2, cụ G, cụ L). Khi được cấp, cụ N2 xây dựng 03 gian nhà cấp 4, các công trình ông N2 xây dựng bây giờ không còn công trình gì do thời gian xây đã lâu nên mục nát hết.

Trước đó, cụ N2 có 01 thửa đất do các cụ đời trước để lại, cụ N2 và hai bà vợ (cụ G, cụ L) cùng các con sinh sống trên diện tích đất của các cụ đời trước để lại. Do cụ N2 có 02 vợ nên nảy sinh mâu thuẫn giữa hai vợ nên cụ N2 và cụ L cùng các con cụ L chuyển ra diện tích đất hiện đang tranh chấp để ở, còn cụ G ở lại diện tích đất của các cụ đời trước để lại. Ông Nguyễn Văn T ở lại trên diện tích đất của các cụ để lại cùng với cụ G. Năm 1985, ông T kết hôn với bà Nguyễn Thị M1 và sinh được 04 người con bao gồm: Chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2 và anh Nguyễn Văn T4 thì gia đình ông T, bà M1 vẫn chung sống, chăm sóc mẹ già là cụ G.

Năm 1995, cụ G chết thì gia đình ông T, bà M1 vẫn ở đó. Đến năm 1999 thì ông Nguyễn Khắc K (anh trai cả) khi đó đang công tác trong quân đội đóng quân ở thị trấn X nói với ông T là ông K không ở quê (xã P) nữa nên để cho ông K một thửa đất, còn gia đình ông T, bà M1 ra thửa đất ngoài (hiện tranh chấp) để ở cho rộng rãi và thoáng, ông K nói sẽ đón cụ L (bà hai), bà M và bà H vào thị trấn X ở cùng ông K. Sau khi anh em thống nhất như vậy thì gia đình ông T, bà M1 chuyển ra thửa đất ngoài (hiện tranh chấp) để ở, khi chuyển đến thì gia đình ông T, bà M1 ở tại 03 gian nhà của cụ N2 để lại, gia đình ông T, bà M1 khi đó ở chung với cụ L, bà M và bà H nhưng sau đó ông K không đón cụ L, bà M, bà H vào thị trấn X để ở như đã hứa trước đó.

Đối với thửa đất bên trong (đất các cụ đời trước để lại) mà gia đình ông T, bà M1 ở cùng cụ G trước đây thì năm 1999 ông K đã bán thửa đất này cho gia đình bà M2, bán bao nhiêu ông T, bà M1 không biết. Khi bán đất nhận tiền thì ông K không chia cho anh em đồng nào.

Năm 2000, do cụ L và bà M đang sống chung với gia đình ông T, bà M1 và sợ có mâu thuẫn nên vợ chồng ông T, bà M1 đã xây 03 gian nhà, sân, công trình phụ cho cụ L và bà M ra ở riêng còn vợ chồng con cái ông T, bà M1 cùng các con vẫn ở tại 03 gian nhà cũ. 03 gian nhà xây cho cụ L và bà M là do vợ chồng ông T, bà M1 đứng ra làm toàn bộ, riêng phần nền nhà thì bà H bỏ tiền ra để nát nền nhà cho sạch. Việc xây nhà 03 gian cho cụ L và bà M do cụ L bảo vợ chồng ông T, bà M1 làm vì muốn ở riêng cùng bà M nên vợ chồng ông T, bà M1 mới xây chứ trong anh em không có bàn bạc thỏa thuận gì, việc xây dựng nhà cho cụ L thì các anh em không ai đóng góp gì. Việc xây dựng nhà cho cụ L và bà M là do vợ chồng ông T, bà M1 xây chứ không có sự thỏa thuận vợ chồng ông T, bà M1 phải xây như đơn của bà M trình bày.

Đối với bà M trước đây vẫn bình thường, đi làm công nhân bình thường. Đến khoảng năm 2010 – 2011 bà M bị thấp khớp nên giờ không đi lại được chứ không phải bị bẩm sinh từ nhỏ.

Năm 2017, do nhà cũ quá cũ nát mối mọt nên gia đình ông T, bà M1 xây lại nhà như hiện nay trên diện tích khoảng 90m² đất, nhà xây 01 tầng + 01 tum, công trình phụ khép kín, sân...khi xây các anh, chị em trong gia đình có biết nhưng không ai có ý kiến gì. Toàn bộ tiền xây dựng là do vợ chồng ông T, bà M1 bỏ ra xây. Khi xây dựng nhà thì các con ông T, bà M1 không có đóng góp gì vì các con gái đã đi lấy chồng, anh T4 còn nhỏ.

Khi chuyển đến ở diện tích đất hiện nay thì ông T, bà M1 là người đóng thuế quyền sử dụng đất cho đến nay.

Năm 2000 địa phương có chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiến hành đo đạc thì gia đình ông T, bà M1 đứng tên kê khai quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T đứng tên kê khai. Khi đo đạc địa phương hỏi cụ L thì cụ L nói thửa đất đã giao cho ông Nguyễn Văn T nên ghi tên ông Nguyễn Văn T nên ông T đứng tên chủ sử dụng đất. Trước đó thì thửa đất do cụ Nguyễn Văn N2 (bố ông T) đứng tên chủ sử dụng. Đến năm 2008, gia đình ông T, bà M1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất do ông T đứng tên chủ hộ, khi cấp thì cả địa phương được cấp đồng loạt chứ không phải riêng gia đình ông T được cấp. Gia đình ông T, bà M1 đã nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 362m², trong đó có 200m² đất ở còn lại là đất vườn. Diện tích đất được cấp bao gồm cả phần đất đã xây nhà cho cụ L và bà M trước đây.

Sau khi cụ L mất (năm 2013) thì ông K có nói với ông T, bà M1 là tách diện tích đất trên có nhà 03 gian mà bà M đang ở cho riêng bà M đứng tên để làm sổ đỏ, sau này cũng vẫn là của ông T, bà M1, nếu ông T, bà M1 không đồng ý tách cho bà M thì sẽ mất tất (mất cả đất và tình cảm anh em). Khi ông K nói vậy ông T, bà M1 không đồng ý vì ông T, bà M1 đã đứng tên sổ đỏ giờ tách ra sau này lại nhập vào sẽ mất công và mất tiền nên ông T, bà M1 không làm. Khi ông T, bà M1 không đồng ý thì ông K nói “Sẽ cho ông T, bà M1 mất tất”. Đến năm 2018, gia đình ông T, bà M1 nhận được Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông T, bà M1 với lý do “cấp không đúng đối tượng”, việc gia đình ông T, bà M1 bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ai kiện thì ông T, bà M1 không biết, nhưng ông T, bà M1 đoán là ông K kiện vì trước đó ông K nói sẽ cho ông T, bà M1 mất tất.

Không có việc năm 2008, cụ Vương Thị L có nguyện vọng cho bà M 144m² đất và cho ông T 188m² đất và để lại 30m² đất để làm ngõ đi chung, giấy này của cụ L là giả tạo, ông T, bà M1 không thừa nhận.

Việc bà M khởi kiện, theo ông T, bà M1 là do ông K xúi bẩy vì giữa vợ chồng ông T, bà M1 và bà M không có mâu thuẫn gì. Từ khi cụ L chết thì vợ chồng ông T, bà M1 là người chăm sóc bà M và sinh hoạt ăn uống cùng gia đình ông T, bà M1. Đến khi giỗ 100 ngày cụ L thì bà M mới nói ra ở riêng.

Hiện trên đất chỉ cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 và anh Nguyễn Văn T4 ở trên đất, các con gái ông T, bà M1 đã đi lấy chồng và ở nhà chồng.

Quan điểm của ông T, bà M1 về việc giải quyết vụ án là ông T, bà M1 không đồng ý chia như yêu cầu khởi kiện của bà M vì đất bà L bảo cho vợ chồng ông T, bà M1 và ông T, bà M1 đã đứng tên, các anh em trong gia đình cũng không có ý kiến gì khi ông T, bà M1 đứng tên chủ sử dụng đất.

* Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/05/2029 do Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân xã P, huyện C tiến hành thể hiện:

Tổng diện tích thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² tại địa chỉ thôn Q, xã P, C, Thành phố Hà Nội. Đo theo hiện trạng sử dụng là 350.0m². Trong đó:

+ Phần diện tích nhà đất hiện bà Nguyễn Thị M đang quản lý, sử dụng có diện tích 81,8m². Trong đó: Nhà cấp 4 lợp ngói diện tích: 25,6m²; sân láng bê tông diện tích 44,2m²; khu công trình phụ diện tích 12,0m².

+ Phần diện tích nhà đất gia đình ông Nguyễn Văn T đang quản lý sử dụng có tổng diện tích 268,2m². Trong đó: Nhà 2 tầng xây trên diện tích đất 86,5m²; nhà 01 tầng xây trên diện tích đất 19,7m²; mái vảy tôn làm trên diện tích đất 8.0m²; nhà gạch mái ngói xây trên diện tích đất 19.0m²; sân láng bê tông làm trên diện tích đất 91m²; đất để làm vườn cây 44,7m².

* Theo Biên bản định giá tài sản ngày 19/7/2029 của Hội đồng định giá tài sản huyện C thể hiện:

Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² (Trong đó: Đất ở lâu dài diện tích 200m²; đất vườn diện tích 162m²) tại địa chỉ thôn Q, xã P, C, Thành phố Hà Nội. Đo theo hiện trạng sử dụng là 350.0m² (Trong đó: Đất ở lâu dài diện tích 200m²; đất vườn diện tích 150m²).

* Giá trị quyền sử dụng đất tính trung bình (đất ở + đất vườn): 3.500.000đ/m².

Có giá: 350m² x 3.500.000đ/m² = 1.225.000.000 đồng.

* Giá trị các công trình cây cối trên đất:

+ Các công trình cây cối trên phần diện tích đất ông T + bà M1 đang quản lý, sử dụng:

STTCÔNG TRÌNH + CÂY CỐITRỊ GIÁ
1Nhà 02 tầng và nhà 01 tầng diện tích 192,7m²1.086.060.000₫
2Mái vảy tôn 08m²1.762.276₫
3Nhà cấp bốn, diên tích 19m².12.899.100₫
4Sân bê tông 91m².12.016.550₫
5Cổng 4,6m²3.000.000₫
6Tổng giá trị cây cối: 01 cây Lộc Vừng; 01 cây Mít; 01 cây Xoài; 01 cây Bưởi; 03 cây Cau.2.440.000₫
Tổng:1.087.822.276₫

+ Các công trình cây cối trên phần diện tích đất bà Nguyễn Thị M đang quản lý, sử dụng:

STTCÔNG TRÌNH + CÂY CỐITRỊ GIÁ
1Nhà gạch mái ngói diện tích 25,6m²5.793.280₫
2Sân láng bê tông diện tích 44,2m²614.380₫
3Công trình phụ - nhà bán mái 12m²1.510.222₫
4Cây Hồng Xiêm200.000₫
Tổng:8.117.882₫

* Tại buổi hòa giải ngày 20/11/2019: Giữa ông Nguyễn Khắc K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị M), ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 và bị đơn là ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 là các con ông T, bà M1) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1 thống nhất:

Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 đồng ý chia cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M phần diện tích đất như sau:

  • + Phía Đông giáp N3 vào nhà ông T + bà M1 dài 10,88 mét.
  • + Phía Tây giáp đất nhà ông C1 dài 10,88 mét.
  • + Phía Nam giáp đường đi rộng 6,40 mét.
  • + Phía Bắc giáp phần đất còn lại ông T, bà M1 đang sử dụng rộng 6,40 mét.

Tổng diện tích cắt trả cho bà Nguyễn Thị M là 69,63m² (Sáu mươi chín phảy sáu ba mét vuông).

Trên đất có các công trình: Nhà gạch mái ngói, một phần sân láng bê tông, công trình phụ; 01 câu Hồng Xiêm, tường bao.

Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên phần diện tích giao cho bà Nguyễn Thị M có tổng giá trị là: 251.822.882 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm tám mươi hai đồng).

Sau khi, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ lập biên bản hòa giải thành, cùng ngày 20/11/2019, ông Nguyễn Khắc K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị M), ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 có đơn không đồng ý với các nội dung các bên đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành ngày 20/11/2019.

* Trong thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử (do phía nguyên đơn không đồng ý với các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành ngày 20/11/2019), bà Nguyễn Thị M1 xuất trình Thông báo về việc thụ lý vụ án Hành chính sơ thẩm số: 221/TLST-HC ngày 11/7/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đối với vụ án Hành chính giữa:

Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị M1; Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hà Nội về việc bà Nguyễn Thị M1 khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện C đối với quyết định số: 2132/QĐ-UB – UBND ngày 06/04/2018 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình bà Nguyễn Thị M1 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² tại địa chỉ thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do để chờ kết quả giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 221/TLST-HC ngày 11/07/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Ngày 20/05/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính số: 99/2024/QÐST-HC đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 221/TLST-HC ngày 11/07/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội với lý do Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị M1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Sau khi nhận được Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, ngày 24/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ ban hành Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số: 07/2024/QÐST-DS ngày 24/10/2024 để tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngày 10/10/2024, ông Nguyễn Khắc K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin rút lại việc phía nguyên đơn không đồng ý với biên bản hòa giải thành ngày 20/11/2019 và xin đồng ý với nội dung các bên đã hòa giải theo Biên bản hòa giải thành ngày 20/11/2019.

Trong thời gian tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ được biết bà Nguyễn Thị T5 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chết (Bà T5 trước đó ủy quyền cho ông Nguyễn Khắc K).

Tòa án đã đưa những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5 vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5.

Theo ông Nguyễn Khắc K là người được bà Nguyễn Thị T5 ủy quyền trước đây cho biết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T5 cho rằng chồng và các con bà T5 không còn liên quan gì đến tài sản tranh chấp trong vụ án nên từ chối tham gia tố tụng.

Tại buổi hòa giải ngày 26/11/2024, giữa ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị M) và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 với Bị đơn là ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 là các con ông T, bà MI) đã thống nhất:

  • + Các đương sự đều thống nhất không tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp mà giữ nguyên Biên bản định giá tại thời điểm năm 2019.
  • + Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 đồng chia cho Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M phần diện tích đất như sau:
    • + Phía Đông giáp N3 vào nhà ông T + bà M1 dài 10,88 mét.
    • + Phía Tây giáp đất nhà ông C1 dài 10,88 mét.
    • + Phía Nam giáp đường đi rộng 6,40 mét.
    • + Phía Bắc giáp phần đất còn lại ông T, bà M1 đang sử dụng rộng 6,40 mét.

Tổng diện tích cắt trả cho bà Nguyễn Thị M là 69,63m² (Sáu mươi chín phảy sáu ba mét vuông).

Trên đất có các công trình: Nhà gạch mái ngói, một phần sân láng bê tông, công trình phụ; 01 câu Hồng Xiêm, tường bao.

Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên phần diện tích giao cho bà Nguyễn Thị M có tổng giá trị là: 251.822.882 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm tám mươi hai đồng).

Tại phiên tòa,

+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm như đã thỏa thuận tại biên bản hòa giải ngày 26/11/2024.

+ Bị đơn là ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 là các con ông T, bà M1) có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm như đã thỏa thuận tại biên bản hòa giải ngày 26/11/2024.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1: Luật sư Vũ Viết T1 và Luật sư Bùi Thị T2 – Công ty L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Khắc K nhằm giữ gìn tình cảm anh em giữa các bên đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án, các đương sự bao gồm phía Nguyên đơn và phía bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5 chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án

Về nội dung: Sau khi phân tích, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 và ông Nguyễn Khắc K. Cụ thể: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 chia cho Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M phần diện tích đất như sau:

  • + Phía Đông giáp N3 vào nhà ông T + bà M1 dài 10,88 mét.
  • + Phía Tây giáp đất nhà ông C1 dài 10,88 mét.
  • + Phía Nam giáp đường đi rộng 6,40 mét.
  • + Phía Bắc giáp phần đất còn lại ông T, bà M1 đang sử dụng rộng 6,40 mét.

Tổng diện tích cắt trả cho bà Nguyễn Thị M là 69,63m² (Sáu mươi chín phảy sáu ba mét vuông).

Trên đất có các công trình: Nhà gạch mái ngói, một phần sân láng bê tông, công trình phụ; 01 câu Hồng Xiêm, tường bao.

Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên phần diện tích giao cho bà Nguyễn Thị M có tổng giá trị là: 251.822.882 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm tám mươi hai đồng).

Về án phí Dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền:

Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội (tài sản các đương sự đang tranh chấp trong vụ án) có nguồn gốc được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp cho gia đình cụ Nguyễn Văn N2 (bao gồm cụ Nguyễn Văn N2, cụ Tống Thị G, Vương Thị L). Về nguồn gốc đất các đương sự đều thừa nhận.

Cụ Nguyễn Văn N2 (chết năm 1990), cụ Tống Thị G (chết năm 1995) và cụ Vương Thị L (chết năm 2013) đều không để lại di chúc trước khi chết. Trước khi cụ Vương Thị L chết, cụ Vương Thị L chung sống cùng bà Nguyễn Thị M tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ thôn Q, xã P, huyện C hiện các bên đang tranh chấp. Nay, bà Nguyễn Thị M là người đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất đang tranh chấp khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất cụ Nguyễn Văn N2 và cụ Vương Thị L để lại theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp phân chia di sản thừa kế” và là tranh chấp Dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

[1.2]. Về người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T5 (sinh năm 1953 - đã chết năm 2024 trong quá trình giải quyết vụ án). Do vậy, Tòa án đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị T5 là chồng và các con bà T5 gồm ông Đỗ Hữu B (chồng bà T5), chị Đỗ Thị H3, chị Đỗ Thị H4, chị Đỗ Thị Đ, chị Đỗ Thị N, chị Đỗ Thị N1, anh Đỗ Hữu Q (các con bà T5) vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5.

[1.3]. Về sự vắng mặt của chồng và các con bà T5 gồm ông Đỗ Hữu B (chồng bà T5), chị Đỗ Thị H3, chị Đỗ Thị H4, chị Đỗ Thị Đ, chị Đỗ Thị N, chị Đỗ Thị N1,anh Đỗ Hữu Q(các con bà T5) tại phiên tòa: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5 (bà T5 khi còn sống trong quá trình giải quyết vụ án đã ủy quyền cho ông Nguyễn Khắc K), nay bà T5 đã chết nhưng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T5 từ chối tham gia tố tụng, bà T5 đã có ý kiến trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án khi còn sống nên việc vắng mặt của chồng và các con bà T5 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Đây là phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 28 Nghị quyết số: 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T5.

[2] Về nội dung vụ kiện:

[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất các đương sự đang tranh chấp và quyền sử dụng đối với thửa đất:

Cụ Nguyễn Văn N2 (sinh năm 1914 - chết ngày 14/10/1990) có 02 vợ là cụ Tống Thị G (sinh năm 1913 – chết ngày 29/8/1995) và cụ Vương Thị L (sinh năm 1926 - chết ngày 24/01/2013). Sinh thời, cụ N2 được thừa hưởng 01 thửa đất do các cụ đời trước để lại và 01 thửa đất do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp cho cụ Nguyễn Văn N2, cụ Tống Thị G và cụ Vương Thị L. Cụ N2 và vợ cả là cụ Tống Thị G sinh được 02 người con là bà Nguyễn Thị K1 và bà Nguyễn Thị T5; cụ N2 và cụ Vương Thị L sinh được 05 người con bao gồm: Ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T3.

Theo như ông Nguyễn Văn T trình bày thì trước khi cụ N2 được Ủy ban nhân dân xã P cấp đất, cụ N2 cùng cụ G, cụ L và các con chung sống tại thửa đất do các cụ đời trước để lại cho cụ N2. Sau khi gia đình cụ N2 được cấp đất thì cụ N2, cụ L cùng các con cụ L chuyển ra diện tích đất được Ủy ban nhân dân xã P cấp để ở, ông Nguyễn Văn T ở lại trên diện tích đất do các cụ đời trước để lại cùng với cụ G (mẹ già). Năm 1995, cụ G chết thì ông T cùng gia đình vẫn ở trên đất của các cụ đời trước để lại. Đến năm 1999, ông Nguyễn Khắc K (anh tai cả) bảo ông T cùng gia đình chuyển ra thửa đất được Ủy ban nhân dân xã P cấp (hiện các bên đang tranh chấp) để ở. Còn thửa đất các cụ đời trước để lại cho cụ N2 thì ông K đã bán cho người khác mà không chia tiền cho anh em trong gia đình. Trong thời gian này cụ L và bà M chung sống cùng vợ chồng ông T, đến năm 2000, do sợ có mâu thuẫn nên vợ chồng ông T, bà M1 xây 03 gian nhà, sân, công trình phụ cho cụ L và bà M ở đó. Việc vợ chồng ông T xây nhà cho cụ L và bà M là do cụ L muốn ở riêng cùng bà M. Đến năm 2008 thì gia đình ông T, bà M1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất hiện các bên đang tranh chấp (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AN 083158 do UBND huyện C cấp ngày 21/7/2008) mang tên hộ ông Nguyễn Khắc T7 và bà Nguyễn Thị M1.

Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số: 2132/QĐ-UBND ngày 06/4/2018 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AN 083158 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/07/2008 mang tên hộ ông Nguyễn Khắc T7 và bà Nguyễn Thị M1.

Sau khi có Quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị M1 có đơn khởi kiện vụ án hành chính khởi kiện Ủy ban nhân dân huyện C đối với Quyết định số: 2132/QĐ-UBND ngày 06/04/2018 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AN 083158 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/07/2008.

Sau khi Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội thụ lý vụ án Hành chính để giải quyết, tại phiên tòa giải quyết vụ án hành chính ngày 20/05/2024, bà Nguyễn Thị M1 xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hành chính.

Như vậy, diện tích đất đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 (hiện các bên đang tranh chấp) tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội hiện vẫn thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Văn N2, cụ Tống Thị G và cụ Vương Thị L. Cả ba cụ chết đều không để lại di chúc. Do vậy, đến nay thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 (hiện các bên đang tranh chấp) tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C là di sản của các cụ để lại.

[2.2]. Về thời điểm mở thừa kế và hàng thừa kế:

Cụ Nguyễn Văn N2 mất ngày 14/10/1990 không để lại di chúc. Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ N2 là ngày 14/10/1990. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm và theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu về thừa kế đối với khối di sản của cụ Nguyễn Văn N2 vẫn còn. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn N2 bao gồm 09 người gồm: Cụ Tống Thị G, cụ Vương Thị L, bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị T3.

Cụ Tống Thị G mất ngày 29/08/1995 không để lại di chúc. Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Tống Thị G là ngày 29/08/1995. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ 29/8/1995 bao gồm 07 người gồm: Bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị T3.

Cụ Vương Thị L mất ngày 24/01/2013 không để lại di chúc. Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Vương Thị L là ngày 24/01/2013. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ 29/8/1995 bao gồm 07 người gồm: Bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị T5, ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị T3.

[2.3]. Về di sản thừa kế:

Xác định thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích 362m² diện tích theo hiện trạng sử dụng còn lại là 350m² tại địa chỉ thôn Q, xã P, C, Thành phố Hà Nội là tài sản chung của cụ Nguyễn Văn N2, cụ Tống Thị G và cụ Vương Thị L và là di sản của cụ Nguyễn Văn N2, cụ Tống Thị G và cụ Vương Thị L.

Tại buổi hòa giải ngày 26/11/2024, các đương sự đều thống nhất đồng ý với giá trị tài sản tranh chấp theo biên bản định giá ngày 19/07/2019. Do vậy, cần ghi nhận sự thống nhất về giá của các đương sự. Giá trị di sản là quyền sử dụng đất có tổng giá trị là: 350m² x 3.500.000 đồng/m² = 1.225.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu đồng).

[2.4]. Về phân chia di sản thừa kế:

Tại phiên hòa giải ngày 26/11/2024, các đương sự bao gồm: Ông Nguyễn Khắc K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (bà Nguyễn Thị M), ông Nguyễn Khắc K là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị K1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị T3 và Bị đơn là ông Nguyễn Văn T (ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn T4 là các con ông T, bà M1) thống nhất với nội dung: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 đồng ý chia cho Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M phần diện tích đất như sau:

Phía Đông giáp N3 vào nhà ông T + bà M1 dài 10,88 mét; phía Tây giáp đất nhà ông C1 dài 10,88 mét; phía Nam giáp đường đi rộng 6,40 mét; phía Bắc giáp phần đất còn lại ông T, bà M1 đang sử dụng rộng 6,40 mét. Tổng diện tích phân chia cho bà Nguyễn Thị M là 69,63m² (Sáu mươi chín phảy sáu ba mét vuông). Trên đất có các công trình: Nhà gạch mái ngói, một phần sân láng bê tông, công trình phụ; 01 cây Hồng Xiêm, tường bao. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên phần diện tích giao cho bà Nguyễn Thị M có tổng giá trị là: 251.822.882 đồng (Hai trăm năm mươi mốt triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, tám trăm tám mươi hai đồng).

Ngoài diện tích phân chia cho bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 được sử dụng diện tích đất còn lại của thửa đất mà không phải phân chia cho những người thừa kế khác.

Xét sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên hòa giải và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật và phù hợp với di sản và quá trình sử dụng của các bên đương sự nên cần ghi nhận sự tự nguyện hòa giải giữa các đương sự.

[2.5]. Về tỷ lệ phân chia giữa đất ở và đất vườn:

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AN 083158 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 21/07/2008 (đã bị thu hồi) thể hiện. Diện tích đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội có diện tích 362m². Trong đó đất ở có diện tích 200m², đất vườn có diện tích 162m². Nay diện tích đất đo theo hiện trạng sử dụng có diện tích 350m². Theo đó xác định: Đất ở có diện tích 200m², đất vườn có diện tích 150m². Theo tỷ lệ đất ở có tỷ lệ bằng 57% tổng diện tích đất; đất vườn có tỷ lệ 43% tổng diện tích đất.

Theo tỷ lệ nêu trên:

  • + Bà Nguyễn Thị M được chia 69,63m². Trong đo: Đất ở tỷ lệ 57% tổng diện tích đất tương đương với 40m², đất vườn tỷ lệ 43% tổng diện tích đất tương đương với 29,63m².
  • + Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 được chia 280,37m². Trong đó: Đất ở tỷ lệ 57% tổng diện tích đất tương đương với 159,81m², đất vườn tỷ lệ 43% tổng diện tích đất tương đương với 120,56m².

[3]. Về án phí: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M là người khuyết tật đang được hưởng trợ cấp của Nhà nước; bị đơn ông Nguyễn Văn T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1 đã trên 60 tuổi. Do vậy, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1 được miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 213, 219, 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 624, 625, 626, 627, 628, 630, 631, 632, 634, 635, 643, 649, 650, 659, 660 Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Khoản 2, khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

- Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án Dân sự, Hôn nhân và Gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

[01]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 350m² tại địa chỉ: thôn Q, xã P, C, Thành phố Hà Nội.

[02]. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1 chia cho bà Nguyễn Thị M quyền sử dụng diện tích là 69,63m² (Sáu mươi chín phảy sáu ba mét vuông) đất nằm trong thửa đất số 35, tờ bản đồ số 01 tại địa chỉ: thôn Q, xã P, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Trong đó: Đất ở có diện tích 40m², đất vườn có diện tích 29,63m².

Diện tích đất bà Nguyễn Thị M được phân chia có các mặt tiếp giáp như sau:

Phía Đông giáp N3 vào nhà ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 dài 10,88 mét; phía Tây giáp đất nhà ông C1 dài 10,88 mét; phía Nam giáp đường đi rộng 6,40 mét; phía Bắc giáp phần đất còn lại của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 đang sử dụng rộng 6,40 mét. Bà Nguyễn Thị M được sở hữu các công trình trên diện tích đất được phân chia.

(Phần diện tích đất chia cho bà Nguyễn Thị M có sơ đồ kèm theo)

[03]. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1 được quyền sử dụng diện tích đất còn lại là 280,37m². Trong đó: Đất ở diện tích 159,81m²; đất vườn diện tích 120,56m² và ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1 được sở hữu các công trình trên diện tích đất được chia.

(Phần diện tích đất chia cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1 có sơ đồ kèm theo)

[4]. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M1.

Trêng hîp b¶nn, quyÕt ®Þnh ®îc thi hunhn theo qui ®Þnh t¹i Điòu 2 LuËt thi hunh ¸n d©n sù th× ngêi ®îc thi hunhan d©n sù, ngêi ph¶i thi hunhan d©n sù cã quyòn tháa thuËn thi hµnhn, quyòn yªu cÇu thi hunhn, tù nguyön thi hunhan hoÆc cùng chỗ thi hunh n theo qui ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 9 LuËt thi hunh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hunhan d©n sù ®îc thùc hiÖn theo qui ®Þnh t¹i Điòu 30 LuËt thi hµnhn d©n sù.

[5]. Về quyền kháng cáo:

+ Ông Nguyễn Khắc K, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị M1 có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Ông Đỗ Hữu B, chị Đỗ Thị H3, chị Đỗ Thị H4, chị Đỗ Thị Đ, chị Đỗ Thị N, chị Đỗ Thị N1, anh Đỗ Hữu Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.Hà Nội;
  • - VKSND H.Chương Mỹ;
  • - Chi cục THA H.Chương Mỹ;
  • - Lưu HSVA – VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phân chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 54/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phân chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phân chia tài sản thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger