|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HS-PT Ngày: 25 – 3 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Các Thẩm phán:Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 11 và 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Chí T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Chí T, sinh ngày 26/01/2002 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và con bà Phan Thị T1; có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Từ ngày 07 đến ngày 16 tháng 10 năm 2024; tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Vụ án không bị Viện kiểm sát kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ, ngày 07/10/2024, Nguyễn Chí T điều khiển xe mô tô biển số 66G1-321.38, của chị Phan Thị Mỹ D, để mua sữa cho con, thì gặp Nguyễn Văn H (bạn của T). H hỏi T: “Chơi không?”. Thông hiểu là H rủ sử dụng ma tuý, Thông đồng Ý, mỗi người hùn 200.000 đồng, tổng cộng là 400.000 đồng. H điện thoại cho người tên T2 (không rõ họ, chữ lót) và đưa điện thoại cho T để thoả thuận và hẹn địa điểm nhận ma tuý. Khoảng 15 phút sau, T đến gần Trường M để nhận ma tuý như đã hẹn. Sau khi nhận ma tuý, T cất giấu ở vị trí gác chân xe mô tô và dùng chân phải đạp lên, điều khiển xe về để cùng H sử dụng. Khi đến đoạn thuộc khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) túi nylon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma tuý được niêm phong trong phong bì giấy, có các chữ ký ghi họ và tên Nguyễn Văn B, Huỳnh Thanh L, Nguyễn Chí T và in hình dấu tròn màu đỏ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu sơn xanh, biển số 66G1 - 321.38, đã qua sử dụng, do Phan Thị L1 đứng tên chủ sở hữu. Chị L1 đi làm việc ở Campuchia, giao xe cho em ruột Phan Thị Mỹ D quản lý, sử dụng. D không biết việc T mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho D.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65, màu đen, có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0326.593.xxx, đã qua sử dụng, là tài sản của T. Quá trình điều tra chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội, ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra trả lại cho T.
Tại bản kết luận giám định số 1397/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 túi nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì giấy nêu trên gửi đi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,126 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07 đến ngày 16 tháng 10 năm 2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02 tháng 01 năm 2025, bị cáo Nguyễn Chí T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp kết án bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là cao, nay bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định hành vi của bị cáo Nguyễn Chí T bị Toà án cấp sơ thẩm kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo T là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nêu tình tiết gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có con nhỏ để xin giảm nhẹ nhưng xét thấy tình tiết này Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Chí T.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,126 gam, nhằm mục đích để sử dụng và đã bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Chí T đủ cơ sở cấu thành tội phạm. Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự kết án bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có áp dụng tình tiết giảm nhẹ do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; có người thân là người có công với cách mạng, con của bị cáo còn nhỏ (3 tuổi) cần người chăm sóc theo quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và có cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với bị cáo. Từ đó, Toà án phán quyết mức án 01 năm tù đối với bị cáo là phù hợp.
[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ. Xét thấy các nội dung này đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ, tại phiên toà phúc thẩm không phát sinh các tình tiết giảm nhẹ khác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.
[4] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Chí T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Chí T.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07 đến ngày 16 tháng 10 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tuấn Anh |
Bản án số 54/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí T
