Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Trọng Tuấn

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: K, Fujisawa-shi Miyabara 3635 dai ichi Mutsumi so 101, Nhật Bản; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2025, các lời khai gửi đến Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Lê Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 21/5/2018. Hôn lễ của anh và chị Q được hai bên gia đình tổ chức theo phong tục Việt Nam. Sau khi kết hôn, anh và chị Q có chung sống với nhau được hơn một năm tại Việt Nam, quan hệ vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn. Tháng 02/2019, anh đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến năm 2021, anh hết hạn hợp đồng lao động, quay về Việt Nam sống đoàn tụ gia đình với chị Q, kinh tế của vợ chồng gặp khó khăn khiến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng về quan điểm sống. Đến năm 2023, anh quay lại Nhật Bản làm việc cho đến nay anh đã sinh sống và làm việc ổn định tại Nhật Bản. Khoảng thời gian vợ chồng anh sống xa nhau, anh và chị Q thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung. Hiện, anh và chị Q mỗi người sống một nước đã lâu, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Q để hai bên giải phóng cho nhau, mỗi bên tự ổn định cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị Q có hai con chung là các cháu: Lê Thị Linh N, sinh ngày 01/12/2018 và cháu Lê Thị Linh P, sinh ngày 16/02/2022. Hiện cả hai cháu Lê Thị Linh N và Lê Thị Linh P đều đang ở với chị Nguyễn Thị Quỳnh . Ly hôn, anh và chị Nguyễn Thị Q thoả thuận thống nhất đề nghị Toà án giải quyết giao cả hai con chung của anh và chị Q cho chị Nguyễn Thị Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Anh và chị Nguyễn Thị Quỳnh T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn là chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Chị Q thống nhất với anh Lê Văn D về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Chị Nguyễn Thị Q có quan điểm đồng ý với yêu cầu ly hôn mà anh Lê Văn D đưa ra. Chị Nguyễn Thị Q thống nhất với lời khai của anh Lê Văn D về việc vợ chồng có hai con chung là các cháu: Lê Thị Linh N, sinh ngày 01/12/2018 và cháu Lê Thị Linh P, sinh ngày 16/02/2022; ly hôn chị đồng ý nhận nuôi cháu cả hai cháu Lê Thị Linh N và Lê Thị Linh P cho đến khi các con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, chị Nguyễn Thị Q có cùng có quan điểm với anh Lê Văn D là hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh Lê Văn D đang ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Văn D có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Nguyễn Thị Quỳnh . Đây là vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Lê Văn D hiện đang cư trú ở nước ngoài, bị đơn chị Nguyễn Thị Q hiện đang cư trú ở thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà, anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Q đều vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Quỳnh .

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường M, thành phố T, thành phố Hải Phòng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/5/2018. Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Q cùng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hiện mỗi người sống một nước, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau. Nay, cả hai bên cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên việc anh Lê Văn D có đơn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Q là có căn cứ chấp nhận. Xét quan hệ hôn nhân của anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Q là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của anh Lê Văn D đối với chị Nguyễn Thị Quỳnh .

[4] Về con chung: Anh D1 và chị Q có 02 con chung là các cháu: Lê Thị Linh N, sinh ngày 01/12/2018 và Lê Thị Linh P, sinh ngày 16/02/2022. Anh D1 và chị Q thống nhất giao cả 02 con chung Linh N và Linh P cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện cả 02 cháu Linh N và Linh P đều đang ở với chị Q. Vì vậy, yêu cầu của anh D1 và chị Q về việc giao 02 con chung Linh N và Linh P cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh D1 và chị Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: A và chị Q tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Anh Dũng là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Anh Dũng và chị Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị Q.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Linh N, sinh ngày 01/12/2018 và cháu Lê Thị Linh P, sinh ngày 16/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Q được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; anh D và chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Anh Lê Văn D và chị Nguyễn Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Anh Lê Văn D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0001066 ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Lê Văn D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Anh Lê Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Chị Nguyễn Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND phường Minh Đức, TP. Thủy Nguyên;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn anh Vũ Văn D với bị đơn chị Nguyễn Thị Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger