TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10-3-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung". | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Công Danh
- Bà Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường 7 trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 2214/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: 419, tổ A, ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1986.
Hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà H, ông H1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản làm việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy đăng ký kết hôn số 63/2014, vào ngày 10/3/2014; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu hạnh phúc và có với nhau 01 người con, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ông H1 không còn chăm lo cuộc sống gia đình và có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Vì muốn hòa giải mâu thuẫn nên vợ chồng đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Thực tế, ông H1 và bà đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 tới nay. Vì vậy, bà xác định hiện nay tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án được ly hôn với ông H1.
- Về con chung: bà và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 05/8/2021. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Hiếu N cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Về cấp dưỡng: Tạm thời, bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Minh H1 đã được Tòa án xác minh địa chỉ cư trú tại Công an phường T, thành phố B ngày 12/12/2024, theo nội dung văn bản xác minh thì ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1986 có đăng ký thường trú tại địa chỉ tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và ông H1 vẫn đi về tại địa chỉ nêu trên. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho ông H1 theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, ông H1 vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý đến tại phiên tòa hôm nay, đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
+ Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Nguyễn Minh H1:
Về quan hệ hôn nhân: cho bà H được ly hôn với ông H1.
Về con chung: bà H khai có 01 con chung là cháu Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 05/8/2021. Bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiếu N. Đề nghị giao cháu Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 05/8/2021 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau ly hôn. Tạm thời bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung: bà H khai tự thỏa thuận, ông H1 vắng mặt không có ý kiến nên không xem xét, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về nợ chung: do bà H khai không có nên đề nghị không xem xét.
Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp
Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Minh H1. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà H là nguyên đơn, ông H1 là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Minh H1 có địa chỉ thường trú và hiện đang cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh H1, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H1 theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà H, ông H1 theo quy định của pháp luật.
[4]. Về nội dung tranh chấp
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Minh H1 chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63/2014, ngày 10/3/2014. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) xác định hôn nhân của bà H và ông H1 là hợp pháp.
Xét thấy, bà H xác định vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không có hạnh phúc, vợ chồng đã cố gắng hòa giải những mâu thuẫn để hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Bà H cung cấp xác nhận thông tin cư trú do Công an xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang xác nhận ngày 30/5/2024 với nội dung bà Nguyễn Thị Thu H và cháu Nguyễn Hiếu N đăng ký nơi thường trú mới tại ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Bút lục 43).
Đối với ông H1, theo kết quả xác minh tại Công an phường T ngày 12/12/2024 xác định hiện nay ông H1 vẫn cư trú tại địa phương, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông H1 vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và phiên tòa là không thực hiện đúng nghĩa vụ của bị đơn, từ đó cho thấy ông H1 có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân của hai người, không có ý định hòa giải, đoàn tụ. Mặc dù biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương nơi bà H và ông Hiếu sinh S xác định trong cuộc sống hôn nhân của bà H, ông H1 có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không nắm được vì các đương sự không trình báo với địa phương, không yêu cầu địa phương can thiệp, hòa giải.
Như vậy, cuộc sống hôn nhân của bà H và ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu H khai bà và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 05/8/2021. Bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hiếu N. Bà H trình bày hiện nay cháu N đang sinh sống với bà tại Tiền Giang, bà có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu N. Xét thấy yêu cầu của bà H là phù hợp với thực tế, đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Nguyễn Hiếu N cho bà H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: tạm thời bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, ông H1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Ông H1, bà H có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[4.4] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu H khai không có, không yêu cầu giải quyết, ông H1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, 68, Khoản 4 Điều 147, 220, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), các Điều 51, 56, 57, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H đối với ông Nguyễn Minh H1 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Minh H1.
- Về con chung: bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn minh H1 có 01 con chung tên Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 05/8/2021. Giao cháu Nguyễn Hiếu N cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Nguyễn Minh H1 không cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Minh H1 không trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu H khai tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết, ông Nguyễn Minh H1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến về vấn đề tài sản nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Ông H1, bà H có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết, ông H1 không lên Tòa làm việc, không có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000899 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; bà H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - Viện kiểm sát cùng cấp;
- - Ủy ban nhân dân phường Trảng Dài,
- thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Phú |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Hương tranh chấp ly hôn nuôi con chung với Nguyễn Minh Hiếu
