|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày 13 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm – Thẩm phán
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Liêu Tài Ngoánh
- Ông Huỳnh Tài Em
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện H, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 đối với các bị cáo:
- Trần Quốc T, sinh ngày: 22/11/2003, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam.
- - Nơi cư trú: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Trần Hữu L, sinh năm 1972; bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975.
- - Anh, chị em ruột: 02 người (Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2007).
- - Vợ : Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 2004
- - Con : 01 người sinh năm 2022
- Nhân thân:
- - Tiền án; Tiền sự: Không
- - Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ ngày 05/6/2024, bị khởi tố và tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay.
- Trần Vũ L1, sinh ngày: 19/01/2001, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam.
- - Nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Văn H, sinh năm 1961; con bà Diệp Thị H1, sinh năm 1961.
- Anh, chị em ruột: 04 người (Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2007).
- Nhân thân: Tiền án, tiền sự: không.
- - Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 04/6/2024, bị khởi tố và tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay.
- Ngô Văn L2, sinh ngày: 01/01/2005, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam.
(tên gọi khác: Chó con)
- - Nơi cư trú: Ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; con ông Ngô Văn C1, sinh năm 1957; con bà Châu Thị M, sinh năm 1967.
- Anh, chị em ruột: 04 người (Lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2007).
- Tiền án; Tiền sự: Không
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 04/6/2024, bị khởi tố và tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 2004
Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Các bị cáo và chị T1 có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Vũ L1 và Ngô Văn L2 đều là người nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng; cả hai rủ nhau đi trộm cắp tài sản người khác. Sáng ngày 04/6/2024, L1 và L2 đã trộm được 01 (một) mô tơ tại ấp Đ, xã V, huyện H, Bạc Liêu, đem bán với số tiền 350.000 đồng. Sau khi có tiền, tại nhà bị cáo L2 ở ấp K, xã V, huyện H, Bạc Liêu, bị cáo L1 dùng điện thoại của Trần Quốc T2 đăng nhập vào tài khoản Zalo của Ngô Văn L2 tên “Vu L3” để liên lạc với Trần Quốc T qua nick Zalo “lankhoicb” đặt mua ma túy với giá 300.000 đồng và hẹn T giao tại nhà L3. Đến khoảng 09 giờ ngày 04/6/2024, T điều khiển xe nhãn hiệu Future màu trắng, biển kiểm soát 94E1-536.75 đến nhà của L3, L3 và L1 dẫn bị cáo T vào phòng ngủ của L3; lúc này, trong phòng ngủ của L3 còn có Ngô Vũ L4 (em ruột bị cáo L3) và Trần Quốc T2. Tại đây, Trần Vũ L1 đưa bị cáo T 300.000 đồng, bị cáo T lấy từ trong người ra một gói ma túy, L1 đưa nỏ thủy tinh cho T đổ ma túy vào, bị cáo T xin hút một hơi trước khi về, nên L1 dùng quẹt khè nấu ma túy lên cho T hút. Sau khi bị cáo T ra về, bị cáo L3, L1 cùng nhau sử dụng ma túy và rủ rê Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2 cùng sử dụng; trong lúc sử dụng, bị cáo L3 điện thoại rủ Nguyễn Tuấn K đến nhà cùng sử dụng ma túy.
Đến 09 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, lực lượng Công an xã V kết hợp cùng lực lượng Công an huyện H tiến hành kiểm tra nhà của Ngô Vũ L5, phát hiện trong phòng ngủ của Ngô Văn L2 có Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2, Nguyễn Tuấn K và Trần Vũ L1 đang sử dụng trái phép chất ma tuý, còn Ngô Văn L2 đang ngồi gần khu vực phòng ngủ. Qua kiểm tra, Công an huyện H phát hiện trên giường ngủ có 01 (một) chai nhựa có chữ Sting, bên trong có chứa chất lỏng, nắp chai màu đỏ, đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh và 02 (hai) cái bật lửa. Kiểm tra trên người Trần Quốc T2 thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo, loại cảm ứng, trên người Nguyễn Tuấn K thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại cảm ứng, lực lượng Công an huyện H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và niêm phong theo quy định (Bút lục 77-83).
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm 01 (một) chai nhựa có chữ Sting, bên trong có chứa chất lỏng, nắp chai màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh);
- 02 (hai) cái bật lửa của Ngô Văn L2 và Trần Vũ L1;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel,
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng,
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo.
- 01 xe nhãn hiệu Future màu trắng, biển kiểm soát 94E1-536.75 của Trần Quốc T sử dụng (Bút lục 125-158, 165-212).
Tại bản Kết luận giám định số 62/KL-KTHS ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận: có tìm chất ma túy bên trong bộ dụng cụ (ký hiệu M), loại Methamphetamine, không cân được khối lượng do chất ma túy bên trong bộ dụng cụ rất ít (dạng vết) (Bút lục 84-87)
Cáo trạng số: 44/CT-VKSHB ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Trần Quốc Tỉnh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Ngô Văn L2 và Trần Vũ L1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sư; bị cáo T không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Vũ L1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù; xử phạt bị cáo Ngô Văn L2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 (chai) nhựa, loại chai Sting, bên trong có chứa chất lỏng màu trắng, phần nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, gắn với 01 (một) ống hút nhựa, màu trắng và 01 (một) nỏ thủy tinh, màu trắng. Tất cả được niêm phong trong hộp giấy bên ngoài có ghi số 62/GĐMT-2024, có 04 dấu tròn màu đỏ của phòng K3 Công an tỉnh B, chữ ký ghi tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc K1 thuộc Phòng K3 Công an tỉnh B.
- - 02 (hai) cái bật lửa. Tình trạng đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Itel A26, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng được tắt nguồn.
Trả lại người quản lý hợp pháp tài sản:
- - Chị Huỳnh Ngọc T1 và bị cáo Trần Quốc T: 01 (một) xe Mô tô, loại xe Future, màu trắng-đen, biển kiểm soát 94E1- 53675, khung: RLHJC7659NY134621, số máy: JC90E0290984. Tình trạng đã qua sử dụng.
Phần tranh luận tại toà: Bị cáo T, Bị cáo L1 và bị cáo L2 không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo L1 và L2 đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình. Bị cáo T yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét nếu đủ chứng cứ buộc tội bị cáo chấp nhận, không ý kiến khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vũ L1 và bị cáo Ngô Văn L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng và chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, lực lượng Công an xã V kết hợp cùng lực lượng Công an huyện H tiến hành kiểm tra nhà bà Châu Thị M quản lý (bị cáo L2 ở cùng với cha mẹ) thuộc ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và đã bắt quả tang Ngô Văn L2 là con ruột bà M cùng với Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2, Nguyễn Tuấn K và Trần Vũ L1 đang sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng ngủ của bị cáo Ngô Văn L2 và đã thu giữ tang vật 01 (một) chai nhựa có chữ Sting, bên trong có chứa chất lỏng, nắp chai màu đỏ, đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh và 02 (hai) cái bật lửa trên giường ngủ.
Lời khai nhận của các bị cáo L1 và L2 tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra của các đối tượng Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2, Nguyễn Tuấn K là những người được L4 và L2 rủ sử dụng ma tuý cùng, cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Xét thấy, bị cáo Ngô Văn L2, Trần Vũ L1 bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, đang thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy, người tổ chức sử dụng ma túy là bị cáo L1, L2 và tại thời điểm phát hiện, bắt giữa hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo vẫn đang diễn ra, chưa kết thúc. Hành vi của các bị cáo L1 và L2 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Vũ L1 là người liên lạc với bị cáo Trần Quốc T để mua ma túy, sau khi mua được ma túy, cả hai dùng phòng ngủ của bị cáo L2 để làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy, thời điểm này có Ngô Vũ L4 và Trần Quốc T2 có mặt nên cả hai đã rủ rê, lôi kéo Ngô Vũ L4, Trần Quốc T3 cùng tham gia sử dụng ma túy, không chỉ vậy bị cáo L2 còn rủ thêm Nguyễn Tiến K2 đến nhà cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Thời điểm, Ngô Vũ L4 và Nguyễn Tuấn K sử dụng ma túy thì Ngô Vũ L4, sinh ngày 15/03/2007 mới 17 tuổi 19 ngày, Nguyễn Tuấn K sinh ngày 25/10/2008 được 16 tuổi 5 tháng 9 ngày nên bị cáo L2 và bị cáo L4 phải chịu tình tiết định khung được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Còn phần bị cáo Trần Quốc T, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thừa nhận có hành vi bán ma tuý cho L4 tại nhà của L2 thuộc ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị cáo T không thừa nhận có hành vi bán ma túy cho bị cáo L4, bị cáo xác định không có quen biết với các bị cáo L2 và L4, nhưng qua biên bản nhận dạng qua ảnh của bị cáo L2, cùng Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2 đã xác định người đến nhà và bán ma túy cho bị cáo L4 là bị cáo T, lời khai của bị cáo L2, bị cáo L4, cũng như lời khai Ngô Vũ L4, Trần Quốc T2 phù hợp với lời khai ban đầu của bị cáo T khi bị bắt, bị cáo T thừa nhận bị cáo là đem ma túy đến nhà bị cáo L2 bán cho bị cáo L4. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo T tại Cơ quan điều tra do bị cáo tự nguyện khai, không ai hướng dẫn và ép bị cáo khai nhận, bị cáo có ghi xác nhận đã nghe đọc lại, ký tên vào biên bản, phù hợp với biên bản làm việc về nội dung xác định địa điểm bán ma túy do bị cáo T chỉ (Bút lục 130) cũng như lời khai của bị cáo L2, bị cáo L4 cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đủ cơ sở xác định bị cáo T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội. Các bị cáo bản thân là người nghiện ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy, còn có hành vi cung cấp ma túy, sử dụng trái phép chấp ma túy, bị cáo L4 và L2 còn mời, rủ rê người khác (là người chưa thành niên) cùng sử dụng trái phép chất ma túy, phần bị cáo Trần Quốc T đã thực hiện hành vi bán ma túy cho L4 và L2, cho thấy các bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ hành vi mình gây ra, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Vũ L1 và Ngô Văn L2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Trần Quốc T không được hưởng tình tiết giảm nhẹ, do tại phiên toà bị cáo không thừa nhận hành vi đã thực hiện (bị cáo quanh co chối tội). Nhân thân bị cáo Trần Quốc T có 01 tiền sự: Ngày 22/4/2021, Công an huyện P xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 (chai) nhựa, loại chai Sting, bên trong có chứa chất lỏng màu trắng, phần nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, gắn với 01 (một) ống hút nhựa, màu trắng và 01 (một) nỏ thủy tinh, màu trắng. Tất cả được niêm phong trong hộp giấy bên ngoài có ghi số 62/GĐMT-2024, có 04 dấu tròn màu đỏ của phòng K3 Công an tỉnh B, chữ ký ghi tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc K1 thuộc Phòng K3 Công an tỉnh B.
- - 02 (hai) cái bật lửa. Tình trạng đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Itel A26, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng được tắt nguồn.
Trả lại người quản lý hợp pháp tài sản:
- Chị Huỳnh Ngọc T1 và bị cáo Trần Quốc T : 01 (một) xe Mô tô, loại xe Future, màu trắng-đen, biển kiểm soát 94E1- 53675, khung: RLHJC7659NY134621, số máy: JC90E0290984. Tình trạng đã qua sử dụng.
Các tài sản khác trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu do không liên quan vụ án.
- Đối với ông Ngô văn C1 và bà Châu Thị M là cha mẹ của Ngô Văn L2 - chủ nhà thuộc ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, do cả hai không thường xuyên ở nhà, không biết L2 và L1 sử dụng ma tuý tại nhà nên cơ quan điều tra Công an huyện H không xử lý.
- Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Trần Vũ L1 và Ngô Văn L2, Cơ quan điều tra đã khởi tố, giải quyết trong vụ án khác nên không đặt ra xem xét.
-Đối với Nguyễn Tuấn K, Ngô Vũ L4 và Trần Quốc T2 là những người được bị cáo L2 và bị cáo L4 rủ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định những người này không có hành vi giúp sức gì cho các bị cáo trong việc tổ chức sử dụng trái phép ma túy, nên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến tranh luận tại phiên toà có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt cho bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Tuyên bố các bị cáo Trần Vũ L1 và Ngô Văn L2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc T 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/6/2024.
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn L2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/6/2024.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Vũ L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/6/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 (một) bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm: 01 (chai) nhựa, loại chai Sting, bên trong có chứa chất lỏng màu trắng, phần nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, gắn với 01 (một) ống hút nhựa, màu trắng và 01 (một) nỏ thủy tinh, màu trắng. Tất cả được niêm phong trong hộp giấy bên ngoài có ghi số 62/GĐMT-2024, có 04 dấu tròn màu đỏ của phòng K3 Công an tỉnh B, chữ ký ghi tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Quốc K1 thuộc Phòng K3 Công an tỉnh B.
- - 02 (hai) cái bật lửa. Tình trạng đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, hiệu Itel A26, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng được tắt nguồn.
Trả lại người quản lý hợp pháp tài sản:
- Chị Huỳnh Ngọc T1 và bị cáo Trần Quốc T.
- 01 (một) xe Mô tô, loại xe Future, màu trắng-đen, biển kiểm soát 94E1-53675, khung: RLHJC7659NY134621, số máy: JC90E0290984. Tình trạng đã qua sử dụng.
(Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện H và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình ngày 04/11/2024)
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Chí Tâm |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Trần Quốc Tỉnh, sinh ngày: 22/11/2003, tại Bạc Liêu; Giới tính: Nam. - Nơi cư trú: Ấp Long Hậu, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Trần Hữu Lý, sinh năm 1972; bà Nguyễn Thị Chuyền, sinh năm 1975.
