Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HSST

Ngày 17/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ - Giáo viên nghỉ hưu

Bà Phan Thị Nhụ – Cán bộ nghỉ hưu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn K, sinh ngày 23/8/2005;

    Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và con bà Lại Thị L; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án: Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, xử phạt K 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).

  2. Phạm Đình Q, sinh ngày 04/11/2006;

    Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Đình T1 và con bà Trần Thị N; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 139/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, xử phạt Quyền 23 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 46 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa)

  3. Doãn Thế H, sinh ngày 05/5/2008;

    Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố Y, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Doãn Thế H1 và con bà Phạm Thị L1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024 đến ngày 26/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện được tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  • *. Người đại diện cho bị cáo Phạm Đình Q:

    Bà Trần Thị N, sinh năm 1980 (Có mặt)

    Địa chỉ: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

  • *. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T2 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Vắng mặt)

  • * Người đại diện cho bị cáo Doãn Thế H:

    Ông Doãn Thế H1, sinh năm 1984 (Có mặt)

    Địa chỉ: Khu phố Y, phường B, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

  • Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lan A – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (Có mặt)

  • *. Người bị hại: Anh Lê Minh Đ, sinh năm 2003 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số nhà A N, phường N, thị xã S, tỉnh Thanh Hóa.

  • * Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

    1. Anh Đặng Sinh Đ1, sinh năm 2003 (Vắng mặt)

      Địa chỉ: Thôn Lân Châu, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

    2. Bà Lại Thị L, sinh năm 1984 (Có mặt)

      Địa chỉ: Khu phố Lê Độ, phường Quế Tân, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

    3. Bà Trần Thị N, sinh năm 1980 (Có mặt)

      Địa chỉ: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/11/2024, K cùng với H và Q đến quán I ở khu phố Đ, phường P, thị xã Q để chơi Game đến khoảng 13 giờ cùng ngày, anh Lê Minh Đ là bạn ngoài xã hội với K, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu vàng – đen, BKS: 29K1-363.82 đến ngồi chơi game. Thấy trên bàn anh Đ có chìa khóa xe mô tô nên H, K và Q cùng nảy sinh ý định chiếm đoạt lấy chiếc xe mô tô của anh Đ để cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hân quay sang bảo K mượn xe Đ để đi cầm cố, K đồng ý. Tiếp đó, K đi trước ra khu vực nhà vệ sinh của quán Internet, Q và H đi theo sau để bàn về việc chiếm đoạt xe mô tô của anh Đ, sau khi bàn bạc xong cả ba quay lại tiếp tục ngồi vào máy tính của mình. Khoảng 1 đến 2 phút sau, K đứng dậy đi ra chỗ anh Đ hỏi mượn xe mô tô của anh Đ nói đi có việc riêng, anh Đ đồng ý và đưa chìa khóa xe cho K. Sau đó, Q ở lại quán Internet chơi Game tiếp còn K điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX của anh Đ chở H đến quán K1" ở Khu phố M, phường P, thị xã Q gặp anh Đặng Sinh Đ1, sinh năm 2003, HKTT: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (là quản lý quán Karaoke và nhân viên cơ sở cầm đồ “Quang Thắng” ở khu phố M, phường P, thị xã Q) để đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô trên. Tại đây, K nói với anh Đ1 đây là xe mô tô của K, anh Đ1 đồng ý nhận cầm cố với giá 3.000.000 đồng. Thấy không được giá nên K và H điều khiển xe mô tô quay lại đầu đường T gần Bệnh viện Đ2 ở Khu phố Đ, phường P, thị xã Q thì gặp anh Đ đi từ trong quán “Internet Pro” ra ngoài nhìn thấy K, H và hỏi đi đâu thì H nói xe bục xăm mang đi vá để anh Đ không nghi ngờ. Sau đó, H bảo K quay lại quán Karaoke “H” để cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Đ1 với giá 3.000.000 đồng, cắt lãi 200.000 đồng, khi nào quay lại chuộc xe mô tô thì tính lãi sau, khi cầm cố không có giấy tờ đăng ký xe, đồng thời đưa cho K số tiền 2.800.000 đồng. K cầm tiền rồi cùng H đi bộ quay lại quán I gọi Q đi ra. Thấy K gọi thì Q nghĩ đã cầm cố được xe mô tô. Sau đó, Q ra ngoài cùng K, H đi taxi lên khu phố G, phường P, thị xã Q. Trên đường đi, Q hỏi K cầm cố xe mô tô ở đâu, được bao nhiêu tiền thì K nói cầm cố ở quán Karaoke “Hải Yến” được 3.000.000 đồng, cắt lãi 200.000 nghìn đồng. Số tiền này K, H và Q đã tiêu sài cá nhân hết và không có khả năng chuộc xe trả lại cho anh Đ.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 29K1-363.82 do anh Đặng Sinh Đ1 là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên tự giác giao nộp.

Trên cơ sở yêu cầu định giá tài sản số 2669/YCĐG-ĐTTH ngày 06/11/2024, của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q. Tại Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 07/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Q kết luận:

“01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 29K1-363.82, số khung 3128EY001361, số máy JA31E0004911, được mua mới tháng 3/2014 (đã qua sử dụng), tại thời điểm định giá tháng 11/2024 có trị giá 7.500.000 đồng”

Về xử lý vật chứng:

Ngày 0912/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 29K1-363.82 cho chủ sở hữu là anh Lê Minh Đ.

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với số tiền 2.800.000 đồng của anh Đ1, đại diện gia đình các bị cáo đã trả lại cho anh Đ1, anh Đ1 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền cắt lãi khi cầm cố xe, các bị cáo không yêu cầu đề nghị gì.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vào ngày 03/11/2024.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSQV ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn K từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Tổng hợp hình phạt 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 139 ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 38 tháng đến 41 tháng tù, được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 11/3/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 104; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phạm Đình Q từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Tổng hợp hình phạt 23 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 139 ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là từ 32 tháng đến 35 tháng tù, được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 13/3/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Doãn Thế H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo K; Không áp dụng đối với bị cáo Q và H.

Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết

Vật chứng vụ án: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của người bào chữa cho bị cáo Doãn Thế H:

Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Doãn Thế H: Bị cáo H sinh ra trong gia đình có kinh tế khó khăn, bố mẹ đều làm nông nghiệp nên ít thời gian quan tâm đến bị cáo, bị cáo nghỉ học sớm và chơi với bạn bè xấu. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới được 16 tuổi 5 tháng 28 ngày. Do bị cáo tuổi còn nhỏ nên nhận thức chưa được đầy đủ. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo trung thực, tỏ ra ăn năn hối lỗi và được người bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91; Điều 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Phát biểu tại bản luận cứ bào chữa cho bị cáo Phạm Đình Q:

Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Phạm Đình Q. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo trung thực, tỏ ra ăn năn hối lỗi và được người bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại. Bị cáo đã tác động đến gia đình để trả lại tiền anh Q nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về xã hội.

Các bị cáo nhận tội, người đại diện, người bào chữa nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tam gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã được thu hồi đã thể hiện: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 03/11/2024, tại quán I ở khu phố Đ, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn K, Doãn Thế H và Phạm Đình Q có hành vi gian dối mượn xe để chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 29K1-363.82 trị giá 7.500.000 đồng của anh Lê Minh Đ. Sau đó, mang đi cầm cố cho anh Đặng Sinh Đ1 được số tiền 3.000.000 đồng (2.800.000 đồng, cắt lãi 200.000 đồng). Số tiền này sau đó cả 03 cùng nhau tiêu sài cá nhân hết. Hiện tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì cần có tiền chi tiêu cá nhân, các bị cáo lợi dụng mối quan hệ quen biết và đưa ra những thông tin gian dối để nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi. Do vậy, cần thiết phải xử các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy:

Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Đ thì cả ba bị cáo đã có sự trao đổi, bàn bàn và thống nhất về việc mượn xe để cầm cố lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Bị cáo K là người hỏi mượn xe anh Đ và chở H đi cầm cố xe, đồng thời trực tiếp liên hệ, đưa ra thông tin với anh Đ1 là xe của K để được nhận cầm cố. Bị cáo Q ở lại chơi G cùng anh Đ để giữ chân anh Đ. Bị cáo H đi cầm cố xe cùng với K. Các bị cáo đã cùng nhau thực hiện và cùng sử dụng số tiền đã cầm cố được nên nhận định vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Tuy nhiên, nhận thấy các bị cáo nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc và phân công nhiệm vụ cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo K và Q đều có nhân thân xấu. Tháng 4/2024, cả hai bị cáo đều bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Quá trình chấp hành án tại địa phương, các bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân, nhận thức sai lầm để rèn luyện, chấp hành pháp luật mà tiếp tục phạm tội mới. Cả hai bị cáo đều đang trong thời gian chấp hành án nên lần phạm tội này của bị cáo K được xác định là tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q do lần phạm tội trước bị cáo dưới 18 tuổi nên không áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo.

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Tài sản đã được thu hồi và trả cho người bị hại, các bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo K có ông ngoại là Lại Hữu V, sinh năm 1956 tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng cần xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo K và Q xác định là người coi thường luật, khó giáo dục và cải tạo nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định giúp các bị cáo sửa chữa lỗi lầm. Nhận thấy đối với bản án các bị cáo đang chấp hành cần buộc các bị cáo phải chuyển án treo thành án giam và chịu hình phạt chung cho hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo H thực hiện hành vi khi dưới 18 tuổi. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/QN-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo K không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản tích lũy nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với bị cáo Q và H: Do bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi nên cần áp dụng khoản 6 Điều 91 của Bộ luật hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự: Anh Lê Minh Đ đã nhận lại tài sản, anh Đặng Sinh Đ1 đã nhận được số tiền đưa cho K vay. Đại diện bố, mẹ các bị cáo đã tự nguyện bỏ số tiền ra để trả lại cho anh Đ1. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu bồi thường, trả lại nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được trả lại cho người bị hại nên không đặt ra xem xét.

Đối với Đặng Sinh Đ1 là người nhận cầm cố xe mô tô Honda Wave RSX, BKS: 29K1-363.82 (không có giấy tờ) từ Nguyễn Văn K và Doãn Thế H với số tiền 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, Đ1 không biết chiếc xe trên là do các bị caó phạm tội mà có. Vì vậy, căn cứ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, ngày 30/12/2024, Công an thị xã Q có Công văn số 668 đề xuất Chủ tịch UBND thị xã Q ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Đường theo quy định pháp luật là phù hợp.

[8]Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn K 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Tổng hợp hình phạt 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 139 ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/11/2024 và được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 11/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 104; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Phạm Đình Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Tổng hợp hình phạt 23 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 139 ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/11/2024 và được trừ đi số ngày tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 13/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Doãn Thế H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Doãn Thế H cho UBND phường B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không đặt ra xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Các bị cáo Nguyễn Văn K, Phạm Đình Q và Doãn Thế H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh, Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Viện kiểm sát, Công an thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - UBND xã Bằng An;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 54/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K và đồng phạm - trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger