Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 24/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Võ Huy Luận.
    2. Bà Lương Thị Mỹ Linh.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 276/2024/TLST-HS ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 08/01/2025, đối với bị cáo:

PHAN VĂN N (Tên gọi khác: Bích Phượng) - Sinh năm 1990, tại Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: ông Phan Văn M (đã chết); Mẹ bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955; Anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là con út trong gia đình.

- Tiền án:

  • + Ngày 30/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 21/9/2021.
  • + Ngày 29/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 05/5/2024.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Ngày 22/7/2011, bị Công an phường Đ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 22/7/2011.
  • + Ngày 02/7/2013, bị Công an phường Đ xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 04/7/2013.
  • + Ngày 02/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02/7/2014.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng ngày 01/12/2022 (không nhớ chính xác thời gian), Phan Văn N được một người tên T (không rõ nhân thân) cho 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Sau khi nhận ma túy từ T, N chưa sử dụng nên đã cất vào trong tủ quần áo tại nhà số C N thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P. Khoảng 09 giờ ngày 03/12/2022, N đi bộ đến nhà thờ L thuộc phường L, thành phố P tìm gặp một người tên H (không rõ nhân thân) để mua ma túy đá về sử dụng. Gặp H, N nói bán cho N 200.000đồng ma túy đá thì H đồng ý. H đưa cho N 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá, N đưa cho H 200.000đồng. Mua được ma túy, N đi về nhà số C đường N thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P bỏ số ma túy vừa mua được vào trong nỏ thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy đá rồi sử dụng một mình. Sử dụng ma túy xong, N cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong nỏ thủy tinh có dư một ít ma túy đá vào trong tủ quần áo tại phòng ngủ của N.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2022, khi N đang nằm ngủ trong nhà thì bị Công an phường Đ đến kiểm tra hành chính nhà của N. Thấy lực lượng Công an, do N sợ có tàng trữ ma túy trong nhà nên N bung cửa sau nhà rồi bỏ chạy. Sau đó, lực lượng Công an phường Đ kiểm tra nhà của N thì phát hiện, thu giữ bên trong tủ đựng quần áo của N 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trong nỏ thủy tinh có dư một ít ma túy đá và 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Khi thu giữ tang vật có chị Phan Thị Tuyết M1 (sinh năm 1980, trú tại: khu phố F, phường Đ, thành phố P là chị ruột của N) chứng kiến và giao nộp các tang vật cho Cơ quan Công an.

Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, Công an phường Đ đã triệu tập được N đến trụ sở Công an phường để làm việc. Qua làm việc, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng của vụ án:

Thu giữ từ trong tủ quần áo của Phan Văn N, do chị Phan Thị Tuyết M1 giao nộp:

  • - 01 gói nylon không màu, hàn kín 04 đầu, kích thước (1,5x2,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (được ký hiệu là M1 khi giám định).
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 ống hút nhựa màu đen; 01 ống thủy tinh được uốn cong thổi phồng 01 đầu, bên trong ống thủy tinh chứa tinh thể màu trắng đục (được kí hiệu là M2 khi giám định); 01 ly thủy tinh; ½ chai nhựa được úp lên ly thủy tinh dán kín.

Tại Bản kết luận giám định số 659/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  • Mẫu M1 có khối lượng 0,2059 gam Ketamine;
  • Mẫu M2 có khối lượng 0,0391 gam Methamphetamine.

Xử lý vật chứng:

Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì số 659/1 và 659/2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 ống hút nhựa màu đen, 01 ly thủy tinh, ½ chai nhựa được úp lên ly thủy tinh dán kín, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 258/CT-VKSPT-HS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố: Bị cáo Phan Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  1. Kiểm sát viên xin rút áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn N.
  2. Kiểm sát viên giữ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

    Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt: Bị cáo Phan Văn N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

    Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy vật Nhà nước cấm lưu hành:

    • - 02 (hai) phong bì niêm phong số 659/1 và 659/2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
    • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế, gồm: 01 (một) ống hút nhựa màu đen, 01 (một) ly thủy tinh, ½ chai nhựa được úp lên ly thuỷ tinh dán kín.
  3. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/12/2022 tại nhà số C đường N thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P, Phan Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2059 gam Ketamine và 0,0391 gam Methamphetamine thì bị lực lượng Công an phường Đ kiểm tra hành chính nhà của N, thấy lực lượng Công an do N sợ có tàng trữ ma túy trong nhà nên bung cửa sau nhà rồi bỏ chạy. Qua kiểm tra nhà của N, lực lượng Công an phường Đ phát hiện và thu giữ các tang vật. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, Công an phường Đ đã triệu tập được N đến trụ sở Công an phường để làm việc. Qua làm việc, Phan Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bị cáo Phan Văn N có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2059 gam Ketamine và 0,0391 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo là người đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đang trong thời gian chờ đi chấp hành án thì ngày 05/12/2022, lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm ma túy nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên rút áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Phan Văn N là đối tượng hình sự đã bị nhiều lần xét xử về các tội trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Lần gần nhất vào ngày 29/9/2022, bị cáo đã bị kết án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đang trong thời gian chờ đi chấp hành án, xong bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân thì ngày 05/12/2022 lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chứng tỏ bị cáo là người rất khó giáo dục cải tạo và coi thường pháp luật. Vì vậy, cần tuyên cho bị cáo một mức án cách ly xã hội thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt: Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo Phan Văn N là chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên không được chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 02 (hai) phong bì niêm phong số 659/1 và 659/2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế, gồm: 01 (một) ống hút nhựa màu đen, 01 (một) ly thủy tinh và ½ chai nhựa được úp lên ly thuỷ tinh dán kín.

(Vật chứng đã được nhập kho tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 31 ngày 18/11/2024).

[9] Đối với đối tượng tên T và đối tượng tên H, do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo Phan Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Phan Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phan Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 02 (hai) phong bì niêm phong số 659/1 và 659/2 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế, gồm: 01 (một) ống hút nhựa màu đen, 01 (một) ly thủy tinh, ½ chai nhựa được úp lên ly thuỷ tinh dán kín.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 31 ngày 18/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/01/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự thành phố Phan Thiết;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger