TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bé.
Ông Nguyễn Hữu Phúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Phục - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trung tâm học tập công đồng xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Chí H, sinh ngày 20/10/2002; tên gọi khác: Nam; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971 và bà Lê Thị T, sinh năm 1972; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 155/QĐ-XPHC, ngày 07/9/2022 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; tạm giữ: Không; tạm giam: Không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 37/LCĐKNCT, ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Công an huyện T, có mặt.
Bị hại: Phạm Thị E, sinh năm 1964 (chết).
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thị E:
- - Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1963 (chồng).
- - Nguyễn Thanh S, sinh năm 2002 (con).
- - Nguyễn Thị K, sinh năm 1990 (con).
- - Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (con).
- - Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1982 (con).
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1983 (con).
Địa chỉ: ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Nguyễn Thị P, sinh năm 1986 (con).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Nguyễn Thị G, sinh năm 1992 (con).
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thị K, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thị P, Nguyễn Thị G cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1 theo Giấy ủy quyền ngày 17/6/2024, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Thân Anh T4, sinh năm 2002, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Lê Văn Thiện M, sinh năm 1996, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Phan Nhật T5, sinh năm 2000 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/5/2024, Nguyễn Chí H đã có uống bia trước đó, điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 66B1- 879.75, dung tích 134cm³, trên tỉnh lộ ĐT844, hướng đi từ Thị trấn T đến xã P. Khi đến gần cầu “Kênh Phèn” thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đụng vào người đi bộ Phạm Thị E đang đi bộ từ lề trái sang lề phải của hướng xe mô tô, tai nạn xảy ra làm cho xe mô tô và người ngã trên mặt đường.
Hậu quả: Phạm Thị E tử vong tại Trung tâm y tế huyện T do vỡ bàng quang, vỡ gan và gãy xương đùi phải, Nguyễn Chí H bị thương chân trái và tay trái điều trị tại Trung tâm y tế huyện T.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ ngày 13/5/2024, thể hiện:
Hiện trường xảy ra tai nạn là tuyến tỉnh lộ ĐT844, thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đoạn đường thẳng được trải một lớp nhựa bằng phẳng, mặt đường có vạch kẻ tim đường không liền nét màu vàng, không chướng ngại vật, tầm nhìn không bị hạn chế và che khuất, gần cầu “Kênh Phèn”có biển báo đi chậm (W.2459), giao nhau với đường không ưu tiên (W.207b), cấm vượt biển số (P.125), đoạn đường có đèn chiếu sáng công cộng, mặt đường rộng 6,80m. Tất cả số liệu lấy lề bên phải theo hướng đi xe mô tô biển số kiểm soát 66B1- 879.75 của H làm chuẩn. Hiện trường ghi nhận nhiều dấu vết cày do xe mô tô trên tạo nên (vết cày, nạn nhân, xe ngã,...) và được đặt 8 biển số mô tả. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định vùng va chạm giữa xe mô tô và bộ hành Phạm Thị E (biển số 1) rộng 30cm, tim vùng va chạm đo vào lề 1,90m.
Biên bản khám xe mô tô biển số kiểm soát 66B1- 879.75, được đo và chụp ảnh ghi nhận, mô tả các dấu vết va chạm và ghi nhận những bộ phận bị hư hỏng vào biên bản đúng theo trình tự luật định.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Chí H, ngày 13/5/2024, thể hiện: âm tính với chất ma túy trong cơ thể.
Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu số: 2024002747, lúc 00 giờ 35 phút ngày 14/5/2024 của Trung tâm y tế huyện T, kết luận: định lượng Ethanol (côn) trong máu của Nguyễn Chí H là 225.4mg/100ml.
Bản kết luận giám định tử thi số: 714/KLGĐTT-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận: Bà Phạm Thị E, sinh năm 1964, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; bị đa chấn thương gây vỡ nát gan mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.
Quá trình điều tra, Nguyễn Chí H thừa nhận: H chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Vào ngày 10/5/2024, H điều khiển xe mô tô đến nhà T4 chơi và tiếp bắt cá, đến chiều cùng ngày đi về, nhưng do xe H bị hư, H thấy xe mô tô biển số 66B1- 879.75 của Tuệ dựng trên nhà có gắn sẵn chìa khóa, T4 còn đang bắt cá ngoài hầm, H không hỏi T4 mượn xe, mà tự ý lấy xe chạy về nhà. Đến ngày 13/5/2024, H điều khiển xe mô tô trên đi từ Thị trấn T đến xã P, tốc độ khoảng 60 - 65 km/h. Khi đến gần cầu “Kênh Phèn” thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nhìn thấy bà Phạm Thị E đang đi bộ từ lề trái sang lề phải của hướng xe mô tô; H không giảm tốc độ, đến khi khoảng cách giữa xe mô tô của H và bà E còn khoảng 04 – 05 mét, H bóp còi, bà E đi nhanh qua đường, H xử lý không kịp nên đầu xe mô tô va chạm vào hông phải và chân phải, bà E ngã trên mặt đường dẫn đến tử vong.
Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKSTN ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mức án từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm. Tình tiết tăng nặng: Không. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng và các vấn đề khác: Giữ nguyên theo Cáo trạng.
Bị cáo Nguyễn Chí H khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại về hành vi của bị cáo gây ra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 13/5/2024 ; Sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông ngày 13/5/2024; Biên bản vụ tai nạn giao thông ngày 13/5/2024; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 14/5/2024; Bản ảnh, 01 đoạn clip thời lượng 45 giây, được trích xuất từ camera an ninh của Công an xã P, (đoạn clip ghi nhận vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô của Nguyễn Chí H và bộ hành Phan Thị E1; Lời khai đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 13/5/2024, Nguyễn Chí H, ngụ ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp chưa có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 66B1- 879.75, dung tích 134cm³, trong máu có nồng độ cồn, trên tỉnh lộ ĐT844, hướng đi từ Thị trấn T đến xã P. Khi đến gần cầu “Kênh Phèn” thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, H không giảm tốc độ nên đụng người đi bộ Phạm Thị E đang đi bộ từ lề trái sang lề phải của hướng xe mô tô. Kết luận: Phạm Thị E bị đa chấn thương gây vỡ nát gan mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.
Hành vi của bị cáo, đã vi phạm khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ, các hành vi bị nghiêm cấm “Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn; Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu. Quy định là 50 miligam/100mililit máu, vượt 175,4 mg/100ml; Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định; Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, xâm phạm đến tính mạng của bị hại Phạm Thị E và ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn giao thông ở địa phương nói riêng, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định từ 03 năm đến 10 năm.
[4] Xét thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông chưa cao, lái xe cẩu thả,... Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông, xử lý nghiêm các lỗi vi phạm của người tham gia giao thông nhằm giảm tối đa số vụ tai nạn giao thông và hậu quả do tai nạn giao thông gây ra. Bản thân bị cáo có đủ năng lực hành vi nhận thức được điều này; tuy nhiên do cẩu thả không chấp hành đúng quy định pháp luật giao thông đường bộ, tham gia giao thông có nồng độ cồn, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm chết bị hại Phạm Thị E. Hành vi của bị cáo thật đáng phê phán khi tham gia giao thông có nồng độ cồn, không có giấy phép lái xe theo quy định mà vẫn tham gia giao thông với tốc độ cao gây ra tai nạn. Khoảng cách từ vị trí điểm đụng đến vị trí ngã của bị hại là 18,34m, một khoảng cách rất xa làm bị hại tử vong. Mặc khác, bị cáo có nhân thân bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 155/QĐ-XPHC, ngày 07/9/2022 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội với số tiền 6.500.000đ. Ngoài ra, hiện tại Đảng và Nhà nước đang thực hiện đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Theo 01 đoạn clip thời lượng 45 giây, được trích xuất từ camera an ninh của Công an xã P, (đoạn clip ghi nhận vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô của Nguyễn Chí H và bộ hành Phan Thị E1 thì bị hại cũng có một phần lỗi, nhưng không đáng kể, cụ thể: Theo khoản 3 Điều 32 Của Luật giao thông đường bộ quy định: “3. Trường hợp không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường, cầu vượt, hầm dành cho người đi bộ thì người đi bộ phải quan sát các xe đang đi tới, chỉ qua đường khi bảo đảm an toàn và chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn khi qua đường”.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, đã bồi tiền cho đại diện bị hại số tiền 200.000.0000đ (Hai trăm triệu đồng) theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tại đơn xin giảm nhẹ hình phạt ngày 07/10/2024 đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, bị cáo có người ông tên Bùi Văn H1 (anh ruột của bà ngoại H) tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã hy sinh, được Nhà nước công nhận liệt sĩ vào ngày 29/6/2009 nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không.
[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo H không có chức vụ và nghề nghiệp ổn định không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 07/10/2024, Nguyễn Văn Đ1 (là chồng bà Phạm Thị E) và được 07 người con ruột ủy quyền cho Đ1, theo văn bản ủy quyền ngày 17/6/2024) yêu cầu Nguyễn Chí H bồi thường chi phí mai táng, chôn cất và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 200.000.000 đồng. H đồng ý, đã bồi thường xong số tiền trên, Ông Đ1 nhận đủ tiền, không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo không yêu cầu T4 cùng bồi thường. Đại diện bị hại không yêu cầu T4 liên đới bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với xe mô tô trên của T4 bị hư hỏng do H điều khiển gây tai nạn, Tuệ không yêu cầu H sửa chữa và bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[7] Đối với Thân Anh T4 không biết Nguyễn Chí H có giấy phép lái xe theo quy định, khi H đến nhà T4 chơi và ra về, H tự ý lấy xe của T4 chạy về nhà và gây ra tai nạn. Vì vậy, không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự Thân Anh T4, về hành vi: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng và chứng cứ:
Đối với 01 xe mô tô biển số 66B1- 879.75, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen - đỏ, số khung: RLCE1S940AY046843, số máy: 1S94046806 mà Nguyễn Chí H điều khiển gây tai nạn thuộc quyền sở hữu của Phan Nhật T5, năm 2023, T5 bán xe mô tô trên cho Lê Văn Thiện M, nhưng chưa sang tên sở hữu. Đến tháng 8/2023, M bán xe mô tô trên lại cho Thân A Tuệ sử dụng và cũng chưa sang tên sở hữu; T5 và Mỹ không có ý kiến và yêu cầu gì nên trả lại cho Thân Anh T4 là phù hợp điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
01 đoạn clip thời lượng 45 giây, được trích xuất từ camera an ninh của Công an xã P, (đoạn clip ghi nhận vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô của Nguyễn Chí H và bộ hành Phan Thị E1, đã được niêm phong lưu vào đĩa DVD theo quy định). Xét thấy, đây là chứng cứ trong vụ án nên lưu vào hồ sơ vụ án là phù hợp khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 03 (Ba năm tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Về vật chứng:
- Về vật chứng và chứng cứ: Căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Trả lại cho Thân A Tuệ 01 xe mô tô biển số 66B1-879.75, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu đen - đỏ, số khung: RLCE1S940AY046843, số máy: 1S94046806 (xe đã qua sử dụng và hư hỏng sau tai nạn);
+ Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đoạn clip thời lượng 45 giây, được trích xuất từ camera an ninh của Công an xã P, (đoạn clip ghi nhận vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô của Nguyễn Chí H và bộ hành Phan Thị E1, đã được niêm phong lưu vào đĩa DVD theo quy định).
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông quản lý.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hùng Cường |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao thông
