|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phềnh
Ông Lù Văn Lả
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:
Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 13/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn B; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1977, tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Con ông Lò Văn X – Sinh năm 1944 (Đã chết); Con bà Lường Thị C – Sinh năm 1947 (Đã chết); Vợ: Lường Thị T – Sinh năm 1975; Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị X1 – Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt).
- Nguyên đơn dân sự: UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lò Văn S - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lò Văn S: Ông Lường Văn B1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (văn bản ủy quyền số 145 ngày 29/10/2024). (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ UBND huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thái B2 - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thái B2: Ông Chu Văn B3 - Chức vụ: Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (văn bản ủy quyền số 3076 ngày 01/11/2024). (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn B đã được tham gia vào các buổi phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng tại thôn bản, nhưng do muốn có đất trồng lúa nương nên khoảng 6 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 3/2024, Lò Văn B một mình mang theo 01 con dao quắm đến khu vực rừng sản xuất TXN (rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo) thuộc bản Kham Pọm, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (đây là khu vực nương cũ của gia đình B bỏ hoang từ năm 2000), B thấy có nhiều cây gỗ to nhỏ khác nhau mọc xanh tốt. Tại đây, B đã dùng dao quắm chặt phát các cây gỗ nhỏ và cây dây leo, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì B về nhà. Trong khoảng thời gian 05 ngày, B dùng dao quắm một mình chặt phát các cây nhỏ và cây dây leo, đến sáng ngày thứ 6 thì B gặp một người đàn ông (B không biết tên, địa chỉ) cầm cưa máy đi ở đường thuộc bản K, xã P, huyện Đ nên B đã thuê người đàn ông đó cưa toàn bộ số cây gỗ to còn lại với giá 200.000 đồng, buổi trưa sau khi cưa các cây gỗ to xong người đàn ông đi đâu B không biết, còn B đi về nhà. Đến khoảng giữa tháng 4/2024, B đi lên khu rừng đã chặt phá để chuẩn bị dọn dẹp trồng lúa thì cán bộ kiểm lâm địa bàn đến thông báo khu vực nương cũ B chặt phát thuộc quy hoạch rừng và yêu cầu B giữ nguyên hiện trạng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 09 giờ ngày 09/5/2024 của Hạt kiểm lâm huyện Đ, xác định: Hiện trạng rừng bị chặt phá có địa chỉ tại K, tiểu khu H thuộc bản K, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với phần diện tích rừng Lò Văn B chặt phá là 8.544 m². Trên toàn bộ diện tích bị chặt phá, toàn bộ cây đã bị chặt phá nằm ngổn ngang cạnh các gốc cây, lá cây đã khô.
Tại bản Kết luận giám định số 42/KL-GĐ, ngày 10/6/2024 của Giám định viên tư pháp Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên kết luận: Đám rừng bị chặt phá trái pháp luật tại khoảnh 8, tiểu khu H thuộc địa phận khu vực rừng thuộc bản K, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là Rừng tự nhiên, loại rừng sản xuất. Vị trí đám rừng bị chặt phá nằm trong khoảnh 8, tiểu khu H thuộc địa phận khu vực rừng K, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; trạng thái rừng: Rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo (ký hiệu TXN; Diện tích rừng: 8.544 m², trữ lượng rừng trên diện tích bị chặt phá (8.544 m²): 68,033 m³/ha (trữ lượng trên diện tích bị chặt phá: 58,128 m³). Diện tích rừng bị chặt phá 8.544m² chưa giao, chưa cho thuê, hiện UBND xã P đang quản lý theo khoản 3 Điều 102 Luật lâm nghiệp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 24/KL-ĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Tổng diện tích 8.544 m² (0, 8544 ha) giá trị là 81.212.109 đồng; giá trị thiệt hại về môi trường diện tích 8.544 m² trạng thái rừng khu vực có rừng tự nhiên bị chặt phá: rừng tự nhiên thứ sinh gỗ núi đất lá rộng thường xanh và nửa rụng lá nghèo (ký hiệu TXN) loại rừng sản xuất, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ không có căn cứ và cơ sở nào để xác định.
Tại bản cáo trạng số 245/CT-VKSHĐB ngày 13/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, đã truy tố bị cáo Lò Văn B về tội: Hủy Hoại rừng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243/BLHS.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ do ông Chu Văn B3 là người đại diện trình bày: Diện tích rừng bị cáo chặt phá chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã P quản lý, bảo vệ. Yêu cầu bị cáo khắc phục thiệt hại về tài sản bằng hình thức nộp số tiền 81. 212.109 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện UBND xã P, huyện Đ do ông Lường Văn B1 trình bày: Diện tích rừng bị cáo chặt phá chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã P quản lý, bảo vệ. Yêu cầu bị cáo bồi thường nộp ngân sách nhà nước số tiền 81. 212.109 đồng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại rừng" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36/BLHS, điểm d khoản 1 Điều 125/BLTTHS xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 30 tháng đến 36 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo Lò Văn B.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS; Các điều 584, 585, 586, 589/BLDS: Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 81.212.109 đồng cho Nhà nước. Bị cáo đã bồi thường được số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 71.212.109 đồng.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm có lưỡi dao vào chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ là 53 cm, trong đó: Lưỡi dao dài 24,5 cm, chuôi dao dài 9,5 cam, cán gỗ dài 19 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4,4 cm, mỏ quắm dài 5 cm, đường kính của cán gỗ 3 cm, dao cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147/BLTTDS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, là lao động chính trong gia đình, bản thân là người dân tộc thiểu số chỉ đi học hết lớp 2/12 nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân bị cáo phá rừng cũng chỉ để làm nương rẫy kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo 30 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì. Nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện viện Kiểm sát không có tranh luận gì với viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng tháng 03 năm 2024, tại khu vực thuộc khoảnh 8, tiểu khu H thuộc bản K, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn B có hành vi sử dụng dao quắm và thuê người dùng máy cưa để chặt phá trái phép 8.544 m² rừng sản xuất, gây thiệt hại tài sản trên diện tích bị chặt phá là 81.212.109 đồng, với mục đích để lấy đất làm nương. Diện tích rừng mà bị cáo đã phá hủy chưa được giao, cho thuê nên thuộc sự quản lý, bảo vệ của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ. Hành vi của Lò Văn B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người đủ Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại rừng" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Điều 243 Bộ luật hình sự quy định:
" 1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²);...”
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn B về tội Hủy hoại rừng theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi chặt phá rừng trái phép là vi phạm pháp luật nhưng do gia đình kinh tế khó khăn, thiếu đất sản xuất nên bị cáo đã thực hiện hành vi Hủy hoại rừng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm những quy định của nhà nước về bảo vệ rừng của nhà nước. Do vậy cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi hủy hoại rừng bị cáo chưa bị tòa án nào xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng và nộp cho Chi cục thu hành án dân sự huyện Đ vào ngày 11/11/2024; Bố đẻ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo lần đầu phạm tội có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, bị cáo đã khắc phục được một phần thiệt hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo phạm tội một phần là do điều kiện kinh tế quá khó khăn, bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo học hết 02/12 thì nghỉ ở nhà lao động sản xuất nên hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, gia đình thiếu đất sản xuất nên mới phạm tội. Xét thấy, cần tạo cơ hội cho bị cáo lao động, sản xuất nuôi dưỡng, chăm sóc vợ con, hòa nhập cộng đồng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên và người bào chữa đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 243 BLHS thì ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, bị cáo ngoài làm ruộng ra không có nghề nghiệp, thu nhập gì khác, thu nhập không ổn định, gia đình kinh tế khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về khấu trừ một phần thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn phải khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo B làm ruộng, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Tại giai đoạn điều tra Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 81.212.109 đồng, tương ứng với giá trị cây rừng mà bị cáo đã hủy hoại, căn cứ vào kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ. Yêu cầu bồi thường của Ủy ban nhân dân là có căn cứ, bị cáo nhất trí bồi thường, tại giai đoạn truy tố bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đ trong tổng số tiền phải bồi thường theo yêu cầu của UBND xã P. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lò Văn B phải bồi thường cho Nhà nước số tiền: 81.212.109 đồng, bị cáo đã bồi thường được số tiền 10.000.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0000230 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), còn phải bồi thường tiếp 71.212.109 đồng sung quỹ Nhà nước.
Đối với thiệt hại về môi trường: Do không định giá thiệt hại về mặt môi trường do hành vi hủy hoại rừng gây ra. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề thiệt hại về mặt môi trường trong vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về vật chứng: 01 con dao quắm có lưỡi dao vào chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ là 53 cm, trong đó: Lưỡi dao dài 24,5 cm, chuôi dao dài 9,5 cam, cán gỗ dài 19 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4,4 cm, mỏ quắm dài 5 cm, đường kính của cán gỗ 3 cm, dao cũ đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các cây gỗ đã bị chặt là vật chứng của vụ án sau khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra không thực hiện thu gom, tạm giữ mà để tại hiện trường và giao cho ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ quản lý. Do thời gian đã lâu các cây gỗ để ngoài hiện trường đã bị mục nát, không còn giá trị, nên không đặt vấn đề xử lý.
[11] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông bị cáo thuê để cưa các cây to bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở để điều tra làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[12] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[13] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo đề nghị miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, Điều 147/BLTTDS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lò Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
- Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 01/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo Lò Văn B.
2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc Bị cáo Lò Văn B phải bồi thường cho Nhà nước số tiền 81.212.109 đồng (T1 mươi mốt triệu hai trăm mười hai nghìn một trăm linh chín đồng), bị cáo đã bồi thường được số tiền 10.000.000 đồng đã thu theo biên lai thu tiền số 0000230 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, bị cáo B tiếp tục bồi thường số tiền 71.212.109 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm có lưỡi dao vào chuôi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ hình tròn, tổng chiều dài lưỡi dao, chuôi dao và cán gỗ là 53 cm, trong đó: Lưỡi dao dài 24,5 cm, chuôi dao dài 9,5 cam, cán gỗ dài 19 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 4,4 cm, mỏ quắm dài 5 cm, đường kính của cán gỗ 3 cm, dao cũ đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, Điều 147/BLTTDS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường cho Nhà nước, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự - người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2024).
Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần bồi thường thiệt hại, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yên |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hủy hoại rừng
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 30 tháng cải tạo không giam giữ
