|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 54/2024/HSST Ngày: 29/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
---
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Yến và bà Nguyễn Thị Khuyên.
-Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hữu Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Viết C, sinh năm 2001 tại Quảng N; HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố 06, thị trấn Ea T, huyện Cư J, tỉnh Đăk N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết P, sinh năm 1972 và Lê Thị Kim O, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 (một), cụ thể: Ngày 05/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông xử phạt 02 năm tù (theo Bản án số 36/HSST ngày 05/11/2019) về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 01 năm tù theo Bản án số 304/HSST ngày 25/9/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, thành hình phạt chung là 03 năm tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2022, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/11/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù (theo Bản án số 256/2017/HSST ngày 06/11/2017) về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/7/2018, đã được xóa án tích; Ngày 25/9/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù (theo Bản án số 304/HSST ngày 25/9/2019) về tội Trộm cắp tài sản, là người bị kết án dưới 18 tuổi, đã chấp hành xong hình phạt tù, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/7/2020, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2024 – có mặt.
Bị hại:
1/ Anh Đặng Thái B; Địa chỉ: Tổ dân phố 04, thị trấn Ea T, huyện Cư J, tỉnh Đăk N - vắng mặt.
1
2/ Anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H; Địa chỉ: Thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đăk M, tỉnh Đăk N - vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Minh H; Địa chỉ: Thôn Đức T, xã Đức M, huyện Đăk M, tỉnh Đăk N - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 30/6/2024, Lê Viết C đi bộ từ ngã ba Đăk M thuộc thị trấn Ea T, huyện Cư J vào đường Hùng V thuộc tổ dân phố 4, thị trấn Ea T để đi về nhà. Khi đi ngang qua nhà Đặng Thái B ở số 92 đường Hùng V thì C thấy cổng nhà không khóa, trong sân nhà có một xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu xanh trắng mang biển kiểm soát (BKS) 48D1-117.18 không có ai trông coi. Sau đó, C đi vào trong sân thấy ở hiên nhà có một mũ bảo hiểm màu xám bên trong có chìa khóa xe, C lấy chìa khóa cắm vào ổ khóa xe rồi dắt ra phía ngoài đường đồng thời lấy một mũ bảo hiểm màu xám rồi điều khiển xe chạy về hướng Tp. Hồ Chí Minh. Khi đi đến xã Đức M, huyện Đăk M, tỉnh Đăk N thì xe hết xăng nên C dắt xe vào cửa hàng bán trái cây bên đường của chị Trần Thị Minh Hảo và nói xe bị hỏng nên gửi nhờ chiều sẽ quay lại lấy, thì chị H đồng ý. Sau đó, C đi nhờ xe của một người đi đường theo hướng về huyện Cư Jut được khoảng 1 km thì xuống xe đi bộ thêm một đoạn khoảng 50 mét thì thấy nhà Nguyễn Anh T ở thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đăk M để ở phía sau bếp có một xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen mang BKS 48E1-228.89. Công thấy cổng và cửa nhà không khóa, trong nhà không có ai nên đã đi vào trong nhà thì thấy chìa khóa xe để trên bàn trong phòng ngủ cạnh phòng khách, C lấy chìa khóa rồi dắt xe ra phía ngoài mở khóa xe rồi điều khiển về xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh. Khi đến Tp. Hồ Chí Minh, C lên mạng đặt mua một BKS 51S1-228.89 của một người không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) rồi tháo BKS 48E1-228.89 của xe Honda SH Mode vứt bỏ ở thùng rác bên đường, sau đó gắn BKS 51S1-228.89 vào xe Honda SH Mode. C sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi lại cho đến ngày 08/7/2024, Công an huyện Cư Jut triệu tập lên làm việc thì C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen gắn BKS 51S1-228.89.
Vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18, số khung 5P10DY340045, số máy 55P1340054;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716; số khung 5139GZ219246;
- 01 (một) BKS xe mô tô, xe máy 51S1-228.89.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18, số khung 5P10DY340045, số máy 55P1340054. Giá trị thiệt hại của tài sản bị xâm hại vào ngày 30/6/2024 là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
2
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 988/KL-HĐĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716; số khung 5139GZ219246. Giá trị thiệt hại của tài sản bị xâm hại vào ngày 30/6/2024 là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 381/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Biển số xe mô tô, xe máy 51S1-228.89 gửi đến giám định không phải do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Bản cáo trạng số 46/CTr - VKS - CJ ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Lê Viết C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lê Viết C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Viết C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị tuyên phạt bị cáo Lê Viết C từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18 cho anh Đặng Thái B; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716; số khung 5139GZ219246 cho anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) BKS xe mô tô, xe máy 51S1-228.89.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại các anh Đặng Thái B, anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong
3
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 30/6/2024, tại khu vực sân nhà nhà 92 đường Hùng V, thuộc tổ dân phố 4, thị trấn Ea T, huyện Cư J, tỉnh Đăk N, bị cáo Lê Viết C đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Đặng Thái B 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18, trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Đến 06 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục đi đến nhà ông Nguyễn Anh T ở thôn Đức L, xã Đức M, huyện Đăk M, tỉnh Đăk N lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, mang BKS 48E1-228.89, số máy JF51E0836716, số khung 5139GZ219246, trị giá 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng). Tổng giá trị tài sản mà bị cáo C trộm cắp là 43.000.000 đồng (Bốn mươi ba triệu đồng).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tài sản sử dụng một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
Do đó đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Viết C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
[3] Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tính tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Viết C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, mỗi lần giá trị tài sản từ 2.000.000 đồng; mặc khác bị cáo có 01 tiền án chưa xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân xấu: Ngày 06/11/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích và ngày 25/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình
4
Dương xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích, tuy nhiên đây là những tình tiết lưu ý khi lượng hình đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, đã xác định: xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18 là tài sản thuộc sở hữu của anh Đặng Thái Bảo mua của anh Nguyễn Xuân Lộc vào năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục sang tên xe theo quy định. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716; số khung 5139GZ219246 là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản trên cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
- Đối với, BKS xe mô tô, xe máy 51S1-228.89 mà bị cáo đặt mua qua mạng sau đó gắn vào xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716, số khung 5139GZ219246 để làm phương tiện đi lại. Theo Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông thì biển số xe trên không phải do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự.
Bị hại anh Đặng Thái Bảo, anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Những vấn đề khác của vụ án: Đối với chị Trần Thị Minh H là người cho bị cáo gửi xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18 vào ngày 30/6/2024 nhưng chị H không biết chiếc xe trên là do bị cáo trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý chị H.
Đối với một mũ bảo hiểm màu xám mà bị cáo trộm cắp của anh Đặng Thái B vào ngày 30/6/2024. Sau khi đến Tp. Hồ Chí Minh thì bị cáo đã vứt bỏ không nhớ ở đâu, cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút không thu giữ được, anh B không nhớ nhãn hiệu, năm mua mũ bảo hiểm nên không có căn cứ định giá tài sản đối với mũ bảo hiểm để xử lý đối với bị cáo về hành vi này.
Đối biển số xe mô tô 48E1-228.89 của xe Honda SH MODE màu đỏ đen mà bị cáo trộm cắp của anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H thì Công đã tháo biển số vứt vào thùng rác ở đường trong Tp. Hồ Chí Minh, cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút không thu giữ được, bị hại cũng không có yêu cầu gì đối với biển số xe trên nên không xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5
[9] Xét những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Lê Viết Công phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Viết C 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2024.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Đặng Thái B, anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu xanh trắng, loại xe Exciter mang BKS 48D1-117.18 cho anh Đặng Thái B; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH MODE màu đỏ đen, số máy JF51E0836716; số khung 5139GZ219246 cho anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) BKS xe mô tô, xe máy 51S1-228.89.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút ngày 07/10/2024).
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Viết C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo:
- Bị cáo Lê Viết C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại anh Đặng Thái B, anh Nguyễn Anh T và chị Lê Thị Bích H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ quan chị Trần Thị Minh Hảo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
7
Bản án số 54/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 29/11/2024 TAND huyện Cư Jút đưa ra xét xử vụ án trộm cắp tài sản
