|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày 11-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng.
2. Ông Hoàng Văn Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN QUANG T (tên gọi khác: Phạm Văn D, Vũ Đình T1), sinh ngày 17/04/1958 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký thường trú: Khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ1 (đều đã chết); anh chị em ruột có 04, bị cáo là thứ tư; vợ: Lê Thị Ý, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị Đ2, sinh năm 1975 (đã ly hôn); con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1994.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Bản án số 84/PT-HS ngày 10/12/1985 của Tòa án nhân dân Vĩnh Phú tuyên phạt Nguyễn Quang T 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân".
- + Bản án số 26/ST ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú tuyên phạt Nguyễn Quang T 08 năm tù về các tội "Trộm cắp tài sản của công dân", "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa".
- + Bản án số 01 ngày 22/01/1998, của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (xác định bị cáo có 01 tiền án) xử phạt Nguyễn Quang C 12 tháng tù về tội "Trốn khỏi nơi giam" tổng hợp hình phạt với Bản án số 26 ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm 07 tháng 24 ngày.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/1993 đến ngày 11/4/1993 thì trốn truy nã và bị bắt tạm giữ, tạm giam theo Quyết định truy nã từ ngày 04/10/2022 đến 30/12/2022, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" (có mặt tại phiên tòa).
- * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T: Bà Vũ Thanh T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- * Người làm chứng: Bà Hoàng Thị Đ2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ B, Ấp G, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 26/3/1993, Nguyễn Quang T (tên gọi khác Phạm Văn D, Vũ Đình T1) sinh năm 1958, trú tại khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đang ăn cơm cùng với vợ của mình là Hoàng Thị Đ2 (hiện đã ly hôn) tại lán trại nơi tạm trú của T (thuộc thôn Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang) thì thấy người đàn ông tên P (có quen biết với T, nhưng không rõ địa chỉ nơi cư trú) đến gặp T. P nói với T “có ít đồ mang theo muốn cầm cố với T để lấy tiền đi về thành phố Hải Phòng tìm người lên làm vàng”, T hỏi lại P "đồ có những gì", P trả lời “có chăn màn, quần áo, bát đĩa với một lạng thuốc phiện, biết anh không nghiện nên mới dám gửi”. Do quen biết P nên T đồng ý cho P cầm cố tài sản trên và đưa cho P 100.000 đồng. P cầm tiền và gọi người đàn ông đi cùng tên là H (không xác định được địa chỉ cụ thể) mang một bao tải và một túi du lịch đựng đồ vào trong lán trại của T, còn P trực tiếp đưa cho T 01 gói thuốc phiện (bên ngoài được gói bằng giấy xi măng, kích thước (14 x 07 x 01) cm, bên trong là thuốc phiện ở dạng chất nhựa màu đen). Sau khi P, H đi ra khỏi nhà, T mang số tài sản P cầm cố cất vào trong nhà, còn gói thuốc phiện T cất giấu ở trong va ly của mình.
Ngày 26/3/1993, ông Lương Hữu N, sinh năm 1940, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện C tài sản của gia đình mình và tài sản của Lâm trường huyện C bị trộm cắp trên nên đã đến Công an huyện C để trình báo. Quá trình điều tra, Công an huyện C nhận được tố giác quần chúng nhân dân cung cấp thông tin tại lán Nguyễn Quang T có nhiều tài sản có đặc điểm trùng khớp với tài sản ông N bị trộm cắp. Ngày 02/4/1993, Đội điều tra Công an huyện C đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của T. Quá trình khám xét, phát hiện và thu giữ toàn bộ số tài sản mà ông N trình báo bị mất trộm và 01 gói thuốc phiện có đặc điểm nêu trên.
Ngày 03/4/1993, Đội điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Quang T để điều tra về các tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa", "Trộm cắp tài sản công dân" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Nguyễn Quang T bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C từ ngày 03/4/1993. Quá trình bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, T bị tạm giam chung buồng với Khổng Văn H1, sinh năm 1971, trú tại xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước; Đỗ Duy Đ3 sinh năm 1977, trú tại thôn L, xã X, huyện C; Nguyễn Văn Đ4, sinh năm 1960, trú tại thôn Đ, xã N, huyện C. Khoảng 17 giờ ngày 11/4/1993, T thấy Nguyễn Văn Đ4 sử dụng thìa bằng kim loại khoét thủng một lỗ ở trên cánh cửa bằng tôn của buồng giam, tạo lỗ hổng, Đ4 thò tay ra ngoài lấy được 01 mảnh gỗ rộng khoảng 10cm, dài khoảng 01m rồi dùng mảnh gỗ để bẩy rộng lỗ hổng ở trên cánh cửa và chui ra ngoài. Thấy vậy T, H1, Đ3 lần lượt chui ra ngoài theo lỗ hổng trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an huyện C. Sau khi bỏ trốn, T cùng gia đình đi vào tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước). Ngày 11/4/1993, Đội điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và truy nã đối với Nguyễn Quang T về tội "Trốn khỏi nơi giam, giữ" đến ngày 04/10/2022 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt truy nã theo Quyết định truy nã số 17 ngày 11/4/1993.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định trước thời điểm phạm tội nêu trên, ngày 16/6/1988, Nguyễn Quang T còn bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú tuyên phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” tại Bản án số 26/ST. Quá trình đi chấp hành án bản án số 26/ST ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú, Nguyễn Quang T đã bỏ trốn khỏi nơi giam giữ và lên địa bàn huyện C làm ăn và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nêu trên.
Tại Thông báo Kết quả giám định số 258/PC21 ngày 03/10/2003 của Tổ chức giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Quang T gửi giám định có trọng lượng 200g (Hai trăm gam) là thuốc phiện.
Ngày 04/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định trưng cầu giám định dấu vết đường vân số 105 đối với Danh bản của Nguyễn Quang T, sinh ngày 17/4/1958, trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ và D1 bản số 1 của Phạm Văn D (tên gọi khác: Nguyễn Quang T), sinh ngày 17/4/1958, nơi ĐKHKTT: xã M, huyện B, tỉnh Sông Bé, lập ngày 06/4/1993 tại Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Tại Bản kết luận giám định số 1206/KL-KTHS ngày 08/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đường vân in ở ô trỏ phải trên mẫu cần giám định với đường vân in ở ô trỏ phải trên mẫu so sánh là của cùng một người.
Ngày 08/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết đường vân số 139 đối với Danh bản của Nguyễn Quang T, sinh ngày 17/4/1958, trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ và 01 bản sao tài liệu lưu trữ danh, chỉ bản số 6531, lập ngày 15/12/1984 tại V, ghi họ tên Nguyễn Quang C, sinh năm 1956, chỗ ở hiện nay: P - P - V của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh P ngày 27/10/2022; 01 bản sao tài liệu lưu trữ danh, chỉ bản số 9221 lập ngày 21/07/1987 tại V ghi họ tên Nguyễn Quang C, sinh năm 1956, chỗ ở hiện nay P - P - V của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh P ngày 27/10/2022; 01 bản sao tài liệu lưu trữ danh, chỉ bản số 09517 lập ngày 15/10/1997 tại V, ghi họ tên Nguyễn Quang T, sinh năm 1956, nơi thường trú P - P - V của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh P ngày 27/10/2022. Tại Bản kết luận giám định số 1533/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận đường vân in trên mẫu cần giám định với đường vân in trên mẫu so sánh là của cùng một người.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ: 01 gói thuốc phiện có đặc điểm bên ngoài được gói bằng giấy xi măng, kích thước (14 x 07 x 01)cm; 01 đèn măng sông; 01 phích nước loại 2,5 lít; 01 đèn tọa đăng; 01 đôi dày da màu trắng; 01 quần si tàu; 01 áo lon trứng sáo; 01 màn cá nhân; 01 màn tuyn nhà trẻ; 01 áo lon trắng Trung Quốc; 01 áo phông xanh cộc tay; 01 áo hoa nữ dài tay; 01 chăn len nhà trẻ; 01 túi du lịch; 01 túi sách du lịch màu đen; 04 bát sứ Hải Dương; 01 đôi tông cũ; 01 đồng hồ đeo tay S; 01 áo hoa nữ; 01 li đô dài 10m; 01 áo thể thao Trung Quốc; 01 áo nỉ; 01 đôi găng tay Đ5; 01 kìm điện; 01 mảnh vải túi xi kẻ sợi; 01 búa đinh; 01 chiếc rũa; 01 lõi chăn bông loại 4kg; 01 vỏ chăn con công Vĩnh Phúc; 02 kính đeo; 01 chảo con.
Ngày 29/4/1993, Cơ quan điều tra đã trả lại những đồ vật, tài sản trên cho ông Lương Hữu N. Đối với 200 gam thuốc phiện sau khi giám định, trong quá trình quản lý vật chứng đã bị thất lạc, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Cáo trạng số: 53/CT-VKSCH ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Nguyễn Quang T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố. Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/1993 đến 11/4/1993 và từ ngày 04/10/2022 đến 30/12/2022).
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích vụ lợi, bị cáo là người cao tuổi, có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về vật chứng: Đối với 200 gam thuốc phiện sau khi giám định, trong quá trình quản lý vật chứng đã bị thất lạc, Cơ điều tra Công an huyện C đã truy tìm nhưng không thu hồi được, do vậy không đề nghị xem xét.
- - Về vấn đề khác:
Đối với vụ án "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa", "Trộm cắp tài sản của công dân" xảy ra năm 1993 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 27; điểm a, khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự, ngày 30/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án và đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Quang T, do vậy không đề nghị giải quyết.
Đối với hai người đàn ông tên “P, H”, quá trình điều tra không xác định được địa chỉ của P và H do vậy không có cơ sở để xem xét, xử lý.
Đối với hành vi trốn khỏi nơi giam, giữ của Khổng Văn H1, Nguyễn Văn Đ4, Nguyễn Duy Đó đã bị xử lý theo quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Nhất trí với nội dung Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo hiện tuổi đã cao, bị bệnh suy tim độ 3, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bố mẹ đẻ của bị cáo là cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị Đ1 được Nhà nước tặng thưởng Bảng vàng danh dự, bị cáo có anh trai Nguyễn Văn H2 là liệt sỹ, anh trai Nguyễn Quang H3 được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 386; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T mức khởi điểm của khung hình phạt cho cả hai tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hiện nay bản thân bị cáo tuổi đã cao, bị nhiều bệnh phải điều trị đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ và đã có lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1985 được sửa đổi bổ sung năm 1989 và năm 1991 còn hiệu lực (trước ngày 01/01/2018), nhưng khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực mới bị xét xử (sau ngày 01/01/2018), do quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tội trốn khỏi nơi giam, giữ” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có hình phạt nhẹ hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1985 sửa đổi bổ sung năm 1989 và năm 1991. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo nên áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 trong quá trình xét xử đối với bị cáo.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra như: Biên bản ghi lời khai ngày 03/4/1993, bị cáo khai: “P nói: “Có chăn màn quần áo, bát đĩa và một lạng thuốc phiện nữa”. Lúc đó tôi nhận lời và tôi đưa cho P 100.000 đồng. Sáng hôm sau, khoảng 06 giờ 30 phút, tôi mới bỏ các thứ ở trong bao tải và gói chăn.... Gói thuốc phiện tôi để ở va ly”. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại biên bản bắt, khám xét ngày 02/4/1993 thể hiện: “Quá trình khám xét phát hiện trong chiếc va ly có chiếc túi xách vải dù bên trong có một gói bằng giấy xi măng, trong gói giấy có khoảng 01 lạng chất nhựa dẻo màu nâu đen, anh D khai là thuốc phiện”. Phù hợp với Quyết định trưng cầu giám định ngày 02/10/2003 của Công an huyện C thể hiện: “Quá trình khám xét Công an huyện thu giữ 01 gói giấy xi măng bên trong có chất nhựa màu nâu đen (nghi là thuốc phiện)” và Thông báo kết quả giám định số 258/PC21 ngày 03/10/2003 của Tổ chức giám định KTHS - Công an tỉnh T, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 02/4/1993, tại thôn Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Quang T (tên gọi khác Phạm Văn D, Vũ Đình T1) sinh năm 1958, trú tại khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi tàng trữ trái phép 200 gam thuốc phiện.
Khoảng 17 giờ, ngày 11/4/1993, trong quá trình bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, Nguyễn Quang T đã có hành vi trốn khỏi nơi giam giữ nhằm mục đích trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Quang T thực hiện hành vi phạm tội trong khi đang bỏ trốn thi hành Bản án số 26/ST ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú tuyên phạt Nguyễn Quang T 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. Căn cứ điểm d khoản 2, điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 nên không coi hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trốn khỏi nơi giam, giữ” vào năm 1993 của bị cáo Nguyễn Quang T không thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm, do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bố mẹ đẻ của bị cáo là cụ Nguyễn Văn Đ và cụ Nguyễn Thị Đ1 được Nhà nước tặng thưởng Bảng vàng danh dự, bị cáo có anh trai Nguyễn Văn H2 là liệt sỹ, anh trai Nguyễn Quang H3 được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Về mức hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Quá trình bị tạm giam để điều tra về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo đã trốn khỏi nơi giam, giữ là vi phạm pháp luật, xâm phạm hoạt động tư pháp, gây cản trở, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường và đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Cơ sở giam giữ. Sau khi bỏ trốn, bị cáo đi vào tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước) sinh sống và đến ngày 04/10/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt truy nã theo Quyết định truy nã số 17 ngày 11/4/1993.
Bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 84/PT-HS ngày 10/12/1985 của Tòa án nhân dân Vĩnh Phú tuyên phạt Nguyễn Quang T 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân"; Bản án số 26/ST ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú tuyên phạt Nguyễn Quang T 08 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân" và tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa"; Bản án số 01 ngày 22/01/1998 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Quang C 12 tháng tù về tội "Trốn khỏi nơi giam", tổng hợp hình phạt với Bản án số 26 ngày 16/6/1988 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm 07 tháng 24 ngày.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng nội dung buộc tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. Do vậy căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người cao tuổi, có nghề nghiệp chính là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng: Đối với 200 gam thuốc phiện sau khi giám định, trong quá trình quản lý vật chứng đã bị thất lạc, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã truy tìm nhưng không thu hồi được, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Kiến nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rõ và xử lý về hành vi làm mất vật chứng là gói thuốc phiện thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang T theo quy định của pháp luật.
[7]. Về vấn đề khác:
Đối với vụ án Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, Trộm cắp tài sản của công dân xảy ra năm 1993 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 27; điểm a, khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự, ngày 30/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách vụ án và đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với hai người đàn ông tên “P, H”, quá trình điều tra không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của P và H, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với hành vi trốn khỏi nơi giam, giữ của Khổng Văn H1, Nguyễn Văn Đ4, Đỗ Duy Đ3 đã bị xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[8]. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quang T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí, bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/1993 đến 11/4/1993 và từ ngày 04/10/2022 đến 30/12/2022).
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Quang T.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Huệ |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và trốn khỏi nơi giam, giữ)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trốn khỏi nơi giam, giữ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 54 Bùi Quang T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Trốn khỏi nơi giam, giữ
