TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-PT Ngày: 06-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Huỳnh Đắc Đương
Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Chung Hữu T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2023/HSPT, ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Tấn P, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn P đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HSST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tấn P, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2004, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm F, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985; vợ con chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn P: Luật sư Nguyễn Vĩnh B – Trung tâm tư vấn pháp luật tỉnh T. (có mặt)
Ngoài ra, còn có người đại diện hợp pháp của bị hại do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 01/12/2023 bà Huỳnh Hồng M, sinh năm 1969, cư trú khóm F, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nhờ bị cáo Huỳnh Tấn P (bà M là cô ruột bị cáo) điều khiển xe mô tô biển số 84H3-9524 (có dung tích xilanh 108cm³) chở bà M đi từ thành phố T đến thị xã D để thăm người thân.
Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo P điều khiển xe mô tô đi trên tuyến Quốc lộ E đến đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C với tốc độ khoảng 40 km/giờ và đi cách lề phải (hướng thị trấn C - xã L) khoảng 0,5 mét. Do cảm giác buồn ngủ, bị cáo P không chú ý tập trung quan sát phía trước đồng thời cùng lúc này bị cáo Sơn Thị Ú cũng đang điều khiển xe đạp đi phần đường bên trái ngược chiều hướng đi của bị cáo P (hướng xã L - thị trấn C) và đi cách lề trái khoảng 0,5 mét. Trong lúc điều khiển xe đạp, bị cáo Ú tập trung nhìn vào cây dao để trong rổ xe đạp phía trước sợ bị rơi xuống đường nên không chú ý quan sát phía trước. Bị cáo P và bị cáo Ú đều không chú ý quan sát phía trước dẫn đến 02 phương tiện va chạm nhau, bánh trước xe mô tô của bị cáo P điều khiển va chạm vào bánh trước xe đạp do bị cáo Ú điều khiển, tai nạn xảy ra, làm bà Huỳnh Hồng M té ngã xuống mặt đường bị chấn thương sọ não nặng phải nhập viện cấp cứu và điều trị, đến ngày 05/12/2023 bà M tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 918/KLGĐTT-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T đối với bà Huỳnh Hồng M kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến bà Huỳnh Hồng M tử vong là do chấn thương sọ não nặng.
Kết quả giám định pháp y về thương tích, bị cáo Sơn Thị Ú bị thương tích 32% (Ba mươi hai phần trăm), 02 xe bị hư hỏng thiệt hại trị giá 510.000 đồng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn bị cáo P và bị cáo Ú không có nồng độ trong hơi thở; bị cáo P dương tính với chất ma túy (loại M1) và khi điều khiển xe tham gia giao thông, bị cáo P không có giấy phép lái xe hạng A1.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường xác định đoạn đường xảy ra vụ án là đoạn đường thẳng, hai chiều, mặt đường rộng 11 mét, có vạch phân tuyến màu vàng đứt quãng ở giữa tim đường, phân chia thành hai chiều xe chạy, trên đường không có chướng ngại vật, mật độ phương tiện tham gia giao thông bình thường. Lấy lề đường bên phải theo hướng thị trấn C - xã L làm chuẩn xác định điểm đụng, vùng va chạm giữa hai phương tiện cách mép đường chuẩn là 0,5 mét.
Kết luận giám định dấu vết cơ học số 974/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Xe mô tô biển số 84H3-9524 có va chạm với xe đạp. Bánh xe trước của xe mô tô biển số 84H3-9524 và bánh xe trước của xe đạp là bộ phận va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên phải Quốc lộ E, hướng từ thị trấn C đến xã L. Chiều hướng va chạm giữa hai phương tiện là ngược chiều nhau.
Ngay trước thời điểm va chạm với xe mô tô biển số 84H3-9524, bà Sơn Thị Ú đang ngồi trên xe đạp. Vùng va chạm đầu tiên được xác định trong biên bản dựng lại hiện trường vào ngày 22/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phù hợp với dấu vết để lại tại hiện trường của vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, xác định lỗi như sau:
Đối với bị cáo Huỳnh Tấn P: Là người điều khiển xe mô tô biển số 84H3-9524 chở bà Huỳnh Hồng M lưu thông trên tuyến Quốc lộ E theo hướng thị trấn C - xã L. Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông bị cáo không chú ý quan sát phía trước dẫn đến va chạm với xe đạp do bị cáo Sơn Thị Ú điều khiển đi phần đường bên trái (ngược chiều với xe bị cáo P), tai nạn xảy ra hậu quả làm bà M té ngã xuống mặt đường, chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong. Bị cáo P điều khiển phương tiện tham gia giao thông có sử dụng chất ma túy (Methamphetamine) và không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của bị cáo P có lỗi, vi phạm vào khoản 7, khoản 9 và khoản 23 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ.
Đối với bị cáo Sơn Thị Ú: Là người điều khiển xe đạp đi trên tuyến Quốc lộ E theo hướng xã L - thị trấn C, điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định (đi phần đường bên trái) gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông khác; điều khiển xe nhưng không chú ý quan sát phía trước dẫn đến va chạm với xe mô tô do bị cáo P điều khiển chở bà Huỳnh Hồng M đi hướng ngược lại, hậu quả làm bà M tử vong. Hành vi của bị cáo Ú là có lỗi, vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ.
Đối với bà Huỳnh Hồng M: Là chủ sở hữu xe mô tô biển số 84H3-9524, bà M giao xe mô tô cho bị cáo P là người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông (không có giấy phép lái xe), điều khiển chở bà M ngồi sau dẫn đến tai nạn xảy ra, hậu quả bà M tử vong. Bà M cũng có một phần lỗi, vi phạm khoản 10 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ, do bà M đã tử vong nên không truy cứu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử phạt bị cáo Sơn Thị Ú, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/8/2024 bị cáo Huỳnh Tấn P kháng cáo xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Huỳnh Tấn P thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về mức hình phạt, án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ lỗi do hành vi bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Tấn P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tấn P trình bày: Thống nhất tội danh và khung hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo, về hình phạt cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Tấn P 02 (hai) năm tù là quá nghiêm khắc, vì sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, trong vụ án này lỗi hỗn hợp của các bị cáo và bị hại, mặc dù bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, gia đình bị cáo đã khắc phục cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng và đại diện gia đình bị hại cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo, bản thân bị cáo P bị khuyết tật nghe bẩm sinh từ nhỏ. Sự việc xảy ra do bị hại yêu cầu bị cáo điều khiển xe dẫn đến tai nạn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn P cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Tấn P: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo bị cáo Huỳnh Tấn P là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Tấn P Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 01/12/2023, bị cáo P điều khiển xe mô tô đi trên tuyến Quốc lộ E đến đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C với tốc độ khoảng 40 km/giờ và đi cách lề phải (hướng thị trấn C - xã L) khoảng 0,5 mét. Do cảm giác buồn ngủ, bị cáo P không chú ý tập trung quan sát phía trước, đồng thời cùng lúc này bị cáo Sơn Thị Ú cũng đang điều khiển xe đạp đi phần đường bên trái ngược chiều hướng đi của bị cáo P (hướng xã L - thị trấn C) và đi cách lề trái khoảng 0,5 mét. Trong lúc điều khiển xe đạp, bị cáo Ú tập trung nhìn vào cây dao để trong rổ xe đạp phía trước sợ bị rơi xuống đường nên không chú ý quan sát phía trước. Bị cáo P và bị cáo Ú đều không chú ý quan sát phía trước dẫn đến 02 phương tiện va chạm nhau, tai nạn xảy ra làm bà Huỳnh Hồng M té ngã xuống mặt đường bị chấn thương sọ não nặng phải nhập viện cấp cứu và điều trị, đến ngày 05/12/2023 bà M tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Tấn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, khi tham gia giao thông tuyệt đối phải tuân thủ và chấp hành nghiêm các quy tắc giao thông đường bộ nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra nhưng bị cáo Huỳnh Tấn P khi điều khiển xe mô tô biển số 84H3-9524 (có dung tích xilanh 108cm³) mà không có giấy phép láy xe hạn A1 theo quy định, bị cáo có sử dụng chất ma túy loại Methamphetamin khi điều khiển xe mô tô, khi đang điều khiển xe mô tô bị cáo ngủ không tập trung quan sát phía trước, dẫn đến tai nạn, hậu quả làm bà Huỳnh Hồng M tử vong. Tình hình tai nạn giao thông hiện nay trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có nhiều diễn biến phức tạp, số lượng vụ án tai nạn giao thông xảy ra ngày càng tăng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 02 (hai) năm tù và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật dân sự là đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo và phù hợp với tính chất vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Tấn P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
[4] Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử có căn nhắc xem xét lời đề nghị của người bào chữa, tuy nhiên tình hình tai nạn giao thông số vụ, số người chết và bị thương ngày một gia tăng, cơ quan Đảng nhà nước tỉnh Trà Vinh cũng có nhiều văn bản đề nghị xử lý nghiêm nhằm để lập lại trật tự an toàn giao thông, vì vậy lời đề nghị của người bào chữa Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn P không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tấn P.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST, ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo Huỳnh Tấn P chấp hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Huỳnh Tấn P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 54/2024/HS-PT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 54/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
