Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 24/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Nhanh và ông Cao Hoàng Dân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhâm – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:56/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN MINH T, sinh năm 1980. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện M, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Minh C và bà Trần Thị H; vợ Bạch Thị C1 (đã ly hôn), con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 115 lập ngày 17/4/2024 tại Công an huyện M.

Tiền án: Bị TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử tại Bản án số: 124/2015/HSST ngày 27/10/2015, xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa thi hành hình phạt bổ sung.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H từ ngày 02/4/2024 đến nay, Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980. Trú tại: thôn C, xã P, huyện M, Hà Nội, Vắng mặt.

+ Bà Trần Thị T2, sinh năm 1959. Trú tại: xóm A, thôn P, xã P, huyện M, Hà Nội, Có mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983. Trú tại: xóm A, thôn Đ, xã Đ, huyện M, Hà Nội, Có mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1984. Trú tại: tổ A, cụm B, phường X, quận T, Hà Nội, Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, lực lượng Công an huyện M và phòng PC04 Công an thành phố H phối hợp với Công an xã Đ tuần tra kiểm soát tại khu vực thôn H, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội phát hiện bắt quả tang Nguyễn Minh T, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện tại mặt đường chỗ T đứng có 01 gói giấy ăn, bên trong có 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, bản thân T khai đó là ma túy loại heroin của T mang đi để bán. Quá trình bắt giữ T phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe máy bỏ chạy khỏi hiện trường. Lực lượng Công an đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở để làm việc.

Tang vật thu giữ bao gồm:

  • - 01 gói giấy ăn bên trong có 02 gói gấy trắng trong các gói đều chứa chất bột màu trắng, thu giữ tại mặt đất cạnh chỗ T đứng;
  • - 01 điện thoại di động N1, vỏ màu xanh, bên trong gắn sim số: 0342928403;
  • - 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn biển kiểm soát 36L6-4804.

Ngày 02/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 470/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K Công an thành phố H giám định chất bột bên trong 02 gói giấy có phải là ma túy? Loại gì? Khối lượng bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 2568/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K- Công an T xác định: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy trắng đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,204 gam”.

Quá trình điều tra làm rõ:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/4/2024, T đi xe máy từ nhà ở thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội đi đến khu vực cầu C thuộc xã P, huyện M, TP Hà Nội. T xuống xe và đi bộ đến cổng nhà anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980, trú tại thôn C, xã P, huyện M, TP Hà Nội gọi thì có một người đàn ông không quen biết đi ra. T hỏi mua của người này 1.000.000đồng tiền ma túy. Người này đồng ý và đưa T 01 gói giấy chứa ma túy heroin qua khe cửa, T đưa lại cho người này 1.000.000 đồng. Sau khi mua ma túy, T mang về nhà và chia thành 04 gói nhỏ, sử dụng hết 02 gói, còn 02 gói T cất vào túi quần với mục đích có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, khi đang ở nhà thì có 01 người đàn ông tên “Trọng” có số thuê bao 0333991536 gọi vào số 0342928403 của T hỏi mua 02 gói ma túy heroin. T đồng ý và báo giá 500.000 đồng. T hẹn T3 đến khu vực Nghĩa trang L xã Đ để giao nhận ma túy. Sau khi Trọng báo đã đến nơi thì T điều khiển xe máy BKS: 36L6-4804 đi đến điểm hẹn. Khi vừa đến nơi chưa kịp giao ma túy và nhận tiền thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Thấy vậy T thả 02 gói ma túy xuống mặt đường cạnh chỗ T đứng.

Ngày 10/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã có Công văn số 296/CV-CSĐT gửi Tập đoàn C2 cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử cuộc gọi và tin nhắn thời gian từ 00 giờ 00 phút ngày 27/3/2024 đến 16 giờ ngày 02/4/2024 đối với số thuê bao 0342928403 và 0333991536.

Tại Công văn trả lời số 7947 của Tập đoàn C2 thể hiện: Chủ số thuê bao 0342928403 là Bạch Thị C1, sinh năm 1981 tại Đ, M, Hà Nội. Chủ số thuê bao 0333991536 là ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963, trú tại N, L, Hòa Bình. Vào ngày 02/4/2024, số thuê bao 0333991536 gọi đến số thuê bao 0342928403 hai lần vào 13:45:48 và 15:25:55, số thuê bao 0342928403 gọi đến số thuê bao 0333991536 01 lần vào 15:31:33.

Ngày 12/8/2024, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Minh T tiến hành nhận dạng tại vị trí nơi T mua ma túy, đồng thời tiến hành đối chất giữa T và Nguyễn Văn T1, xác định: Thinh không phải đối tượng bán ma túy cho T vào ngày 01/4/2024.

Tang vật chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 phong bì mẫu vật của Phòng K Công an thành phố H có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và Nguyễn Minh T; 01 điện thoại di động Nokia 105, vỏ màu xanh, bên trong gắn sim số: 0342928403; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn biển kiểm soát 36L6-4804.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Tại cáo trạng số: 45/CT- VKS - HS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố: Bị cáo Nguyễn Minh Thắng về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Minh T từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của Nguyễn Minh T, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong được hoàn lại sau giam định.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Nokia, vỏ màu xanh, bên trong có gắn sim thu giữ của bị cáo T, sử dụng liên lạc mua bán ma tuý.
  • - Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn BKS: 36L6-4804 T sử dụng để đi mua bán ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ sở hữu là Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1984, trú tại X, T, Hà Nội. Do không có nhu cầu sử dụng nên bà H1 bán lại chiếc xe trên cho một người không nhớ rõ tên tuổi. Năm 2014, bà Trần Thị T2, sinh năm 1959, trú tại P, M, Hà Nội mua lại tại cửa hàng xe cũ tại quận C, Hà Nội. Đến tháng 07 năm 2023 thì cho bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983, trú tại Đ, M, Hà Nội là thông gia mượn sử dụng. Bà Đ và anh trai là Nguyễn Minh T sử dụng chung để đi chợ tại Hà Nội. Bà Đ không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để mua bán ma túy. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên đề nghị trả lại cho bà Trần Thị T2.

Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luận giám định về ma túy đã thu giữ của bị cáo là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc gì, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tạng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/04/2024, tại khu vực thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Minh T đã có hành vi cất giấu 02 gói ma túy loại Heroin, có tổng khối lượng 0,204 gam, mục đích mang đi để bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Theo Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.....

Hành vi của Nguyễn Minh T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà N. Biết tác hại của việc mua bán ma túy sẽ làm tổn hại đối với sức khỏe, là nguyên nhân gây lây lan bệnh tật và phát sinh nhiều tội phạm khác nhưng vì hám lời bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Bản án số: 124/2015/HSST ngày 27/10/2015 của TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2018; hình phạt bổ sung số tiền 5.000.000đồng, bị cáo mới nộp được 400.000đồng, còn lại 4.600.000đồng chưa thi hành của bản án trên nên chưa được xoá án tích. Nay bị cáo lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và phải chấp hành hình phạt tù nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của Nguyễn Minh T, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong được hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + 01 điện thoại Nokia, vỏ màu xanh, bên trong có gắn sim số 0342928403 thu giữ của bị cáo T, sử dụng liên lạc mua bán ma tuý, cần tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu xanh, còn lại 01 thẻ sim trong điện thoại cần tịch thu tiêu huỷ.
  • + Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn BKS: 36L6-4804 T sử dụng để đi mua bán ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ sở hữu là Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1984, trú tại X, T, Hà Nội. Do không có nhu cầu sử dụng nên bà H1 bán lại chiếc xe trên cho một người không nhớ rõ tên tuổi. Năm 2014, bà Trần Thị T2, sinh năm 1959, trú tại P, M, Hà Nội mua lại tại cửa hàng xe cũ tại quận C, Hà Nội. Đến tháng 07 năm 2023 thì cho bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983, trú tại Đ, M, Hà Nội là thông gia mượn sử dụng. Bà Đ và anh trai là Nguyễn Minh T sử dụng chung để đi chợ tại Hà Nội. Bà Đ không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để mua bán ma túy. Kết quả tra cứu xe máy vật chứng xác định chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Bà Trần Thị T2 xin lại chiếc xe máy trên làm phương tiện đi lại nên cần tuyên trả lại cho bà Trần Thị T2.

Đối với người bán ma túy cho T tại nhà của Nguyễn Văn T1, T và T1 đều khai không quen biết đối tượng này, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh camera, xác minh người cư trú tại nhà đất trên nhưng không xác định được nên không có đủ căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng tên T3 mua ma túy của T, do T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không có đủ căn cứ xử lý.

Đối với Bạch Thị C1 (vợ của Nguyễn Minh T - đã ly hôn) là chủ đăng ký số điện thoại 0342.928.xxx khai sử dụng số thuê bao trên đến năm 2019, sau khi ly hôn thì chị không sử dụng nữa và không biết việc T sử dụng số thuê bao này.

Đối với Nguyễn Văn M là chủ đăng ký số điện thoại 0333.991.xxx khai có sử dụng số thuê bao trên đến năm 2022 thì không sử dụng nữa và cũng không biết ai sử dụng.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu tiêu huỷ:
    • + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của Nguyễn Minh T, cán bộ niêm phong và giám định viên niêm phong được hoàn lại sau giám định.
    • + 01 thẻ sim điện thoại.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Nokia, vỏ màu xanh.
    • - Trả lại bà Trần Thị T2 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn biển kiểm soát 36L6-4804

    Những tang vật trên đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger