|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 54/2024/HSST Ngày 30-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Thanh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hạ Quyên, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo: Trần Thị H, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1995 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Như L và bà Nguyễn Thị V; Chồng: Lê Dương T, một con sinh năm 2019; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 27/01/2022 bị Chủ tịch UBND thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 55/QĐ-XPHC về hành vi “Dùng địa điểm của mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng, bị cáo nộp phạt ngày 11/02/2022. Bị cáo được C đi khỏi nơi cư trú từ 22/5/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Ông Tống Phi H1 sinh năm 1984, địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Ông Võ Văn T1 sinh năm 1996, địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Ông Bùi Minh T2 sinh năm 1996, địa chỉ: Đ, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Ông Bùi Hữu V1 sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Ông Bùi Văn N sinh năm 1988, địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
- Ông Bùi Thế P sinh năm 2000, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Ông Dương Văn T3 sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng thời gian từ 09 giờ đến 09 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, các đối tượng Tống Phi H1, Võ Văn T1, Bùi Minh T2 và Bùi Hữu V1 đến quán C1 ở tổ dân phố T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi do bị cáo Trần Thị H làm chủ để uống cà phê. Khi đến quán cà phê, T2 mang theo 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá. T2, H1, T1 và V1 cùng rủ nhau chơi đánh bài tiến lên thắng, thua bằng tiền từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng. Số tiền người chơi nào thắng sẽ được dùng mua nước cho cả 04 người chơi cùng uống. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, Dương Văn T3 cùng với Bùi Thế P và Bùi Văn N đến quán C1 của Trần Thị H để uống cà phê. Tại đây, P, N, T3 và H cùng rủ nhau chơi đánh bài tiến lên thắng, thua bằng tiền từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng. Huyên là người đi mua 01 bộ bài T4 lơ khơ 52 lá để chơi đánh bài. Số tiền người chơi nào thắng sẽ được dùng mua nước cho cả 04 người chơi cùng uống. Hai sòng bạc trên đánh bạc đến khoảng 12 giờ 23 phút, ngày 31/01/2023 thì bị Công an phường T, thành phố Q tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản. Số tiền trên chiếu bạc của T1, H1, V1 và T2 là 190.000 đồng; số tiền trên chiếu bạc của H, N, T3 và P là 70.000 đồng.
Hình thức đánh bạc bằng bài tiến lên thắng, thua bằng tiền như sau:
Bộ bài T4 lơ khơ 52 lá được chia đều cho bốn người chơi, mỗi người chơi có 13 lá bài và đánh theo thứ tự từ phải qua trái. Người nào đánh hết 13 lá bài đầu tiên sẽ là người về nhất, tiếp theo về nhì, ba và tư. Ván đầu tiên người nào có lá bài ba bích sẽ đánh trước, còn các ván bài tiếp theo thì người nào thắng sẽ là người chia bài và được đánh đầu tiên. Người đánh sau phải đánh lá bài có giá trị cao hơn hoặc chất bài cao hơn của người đánh trước, cụ thể: Giá trị lá bài từ thấp đến cao được xác định theo số thứ tự từ 3 đến 10, tiếp đến là J, Q, K, A và 2; chất bài được xác định từ thấp đến cao là bích, chuồn, rô và cơ. Trong quá trình đánh nếu người nào có “ba đôi thông” (tức là có ba cặp bài, mỗi cặp hai lá bài cùng số hoặc cùng chữ và ba cặp bài này phải liên tiếp nhau về giá trị) thì được “cướp cái” đánh trước; người nào có “bốn đôi thông” (quy ước như ba đôi thông, nhưng phải là bốn cặp bài liên tiếp nhau về giá trị) thì “chặt” được đôi 2 và được đánh tiếp; người nào có “tứ quý” (tức là có bốn lá bài cùng giá trị) thì “chặt” được 01 lá bài 2 và được đánh tiếp. Tuy nhiên “ba đôi thông” và “tứ quý” thì người “chặt” phải đang có lượt đánh, còn “bốn đôi thông” thì được “chặt” bất cứ lúc nào mà không cần có lượt đánh. Người về thứ nhất được người về thứ tư chung số tiền 10.000 đồng, người về thứ nhì được người về thứ ba chung số tiền 5.000 đồng. Người nào bị “chặt” 2, thì phải chung cho người đã “chặt” số tiền 5.000 đồng tương ứng với một lá bài 2 màu đen và 10.000 đồng tương ứng với một lá bài 2 màu đỏ.
Tại Bản cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 29/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước 70.000 đồng có tại Chứng nhận nộp tiền lập ngày 16/9/2024 nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Q mở tại Kho bạc nhà nước Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Bùi Hữu V1, ông Bùi Thế P tại phiên tòa thì Cơ quan điều tra đã làm việc, có lời khai của họ trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Ngày 27/01/2022, bị cáo Trần Thị H bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng địa điểm của mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 7.500.000 đồng, đến ngày 11/02/2022 bị cáo H nộp phạt đến ngày 31/01/2023 bị can H sử dụng quán cà phê do Huyên quản lý, chứa chấp hai chiếu bạc chơi đánh bài tiến lên thắng, thua bằng tiền, cụ thể: Chiếu bạc thứ nhất gồm ông Võ Văn T1, ông Tống Phi H1, ông Bùi Hữu V1, ông Bùi Minh T2 đánh bạc với số tiền là 190.000 đồng; chiếu bạc thứ hai gồm bị can H, ông Bùi Văn N, ông Dương Văn T3 và ông Bùi Thế P đánh bạc với số tiền là 30.000 đồng.
Theo Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau: a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau: Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế.
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Theo phân tích nêu trên thì Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ.
- [4] Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Trần Thị H nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng để khuyến khích người đánh bạc đến chơi và uống nước tại quán của bị cáo nên bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này.
- [5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị H không có tình tiết tăng nặng.
- [6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị H thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- [7] Đối với hành vi Trần Thị H sử dụng quán cà phê Chánh cafe do bị can Huyên quản lý để chứa chấp việc đánh bạc: Trần Thị H không rủ rê, lôi kéo ông T1, ông H1, ông V1 ông T2, ông N, ông T3 và ông P tham gia đánh bạc. Ngoài ra, bị can H không thu lợi bất chính từ việc để ông T1, ông H1, ông V1 ông T2, ông N, ông T3 và ông P đánh bạc tại quán cà phê của bị can H. Do đó, hành vi của bị can H chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự.
- Đối với các ông T1, H1, V1, T2, N và P: Thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh bài tiến lên thắng, thua bằng tiền, tuy nhiên tổng số tiền đánh bạc của các đối tượng này chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Qua tra cứu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q xác định các ông T1, H1, V1, T3, T2, N và P chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó, hành vi của T1, H1, V1, T2, N và P chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 31/3/2023, Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm chính đối với T1, H1, V1, T2, N và P về hành vi “Đánh bạc trái phép” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Các ông T1, H1, V1, T2, N và P đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Đối với ông Dương Văn T3: Quá trình xác minh tiền án, tiền sự của T3, Công an phường T xác định ông T3 có hồ sơ tiền án, tiền sự do Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ quản lý. Ngày 14/02/2023, Công an phường T gửi Yêu cầu tra cứu số 297/YCTC-CAP đến Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ để yêu cầu cung cấp thông tin hồ sơ tiền án, tiền sự của ông T3 nhưng Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ chưa có kết quả trả lời nên Công an phường T chưa có căn cứ để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T3 về hành vi “Đánh bạc trái phép” vào ngày 31/01/2023. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q xác định ông T3 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó, hành vi của ông T3 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đến nay, đã hết thời hiệu để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T3 về hành vi “Đánh bạc trái phép” vào ngày 31/01/2023.
- [8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số tiền 190.000 đồng thu giữ từ chiếu bạc của các ông T1, H1, V1 và T2: Cơ quan điều tra xác định đây là số tiền các ông này sử dụng để đánh bạc. Công an phường T đã tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 190.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 31/3/2023 của Công an phường T.
- - Đối với số tiền 70.000 đồng thu giữ từ bị cáo H, ông N, ông T3 và ông P: Kết quả điều tra xác định trong 70.000 đồng có 30.000 đồng là tiền do những người chơi đã thắng thua mà có được và 40.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H dùng để đánh bạc. Bị cáo H đã nộp theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Q. Ngày 26/4/2024, Ủy ban nhân dân thành phố Q ra Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 164/QĐ-HB về việc hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 đối với bị can Trần Thị H. Ủy ban nhân dân phường T đã hoàn trả lại số tiền 70.000 đồng cho Cơ quan điều tra, số tiền trên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 (bộ bài T4 lơ khơ 52 lá (Đã qua sử dụng) mà ông T1, ông H1, ông V1 và ông T2 sử dụng làm công cụ để đánh bạc: Công an phường T đã tịch thu tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 31/3/2023 của Công an phường T.
- - Đối với 01 bộ bài T4 lơ khơ 52 lá (Đã qua sử dụng) mà H, N, T3 và P sử dụng làm công cụ để đánh bạc: Công an phường T đã tịch thu tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Q, không thể thu hồi lại được.
- - Đối với số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) mà bị can H nộp phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Q. Ngày 26/4/2024, Ủy ban nhân dân thành phố Q ra Quyết định hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính số 164/QĐ-HB về việc hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 106/QĐ-XPHC ngày 05/4/2023 đối với bị can Trần Thị H. Ngày 21/6/2024, Ủy ban nhân dân phường T đã hoàn trả lại số tiền 9.000.000 đồng cho bị cáo H.
- [9] Đề nghị của Kiểm sát viên về phần tội danh, về xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận, về hình phạt có phần nghiêm khắc.
- [10] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H phải nộp 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 70.000 đồng có tại Chứng nhận nộp tiền lập ngày 16/9/2024 nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Q mở tại Kho bạc nhà nước Q.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thúy Ly |
Bản án số 54/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về hình sự sơ thẩm - đánh bạc
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H "Đánh bạc"
