TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HNGĐ - ST
Ngày 25/9/2024
“V/v ly hôn giữa chị Hằng
và anh Chương”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hải Đăng
2. Bà Nguyễn Thị Cương
- Thư ký phiên tòa:
Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-DS ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1983 (xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Công C, sinh năm 1977 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 14/5/2024 và bản tự khai, nguyên đơn là chị Dương Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Công C kết hôn ngày 29/9/2001 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P (nay là thị trấn P), huyện Y. Sau ngày cưới anh chị đoàn tụ và chung sống hòa thuận đến tháng 12/2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn hoà hợp, luôn xảy ra bất đồng quan điểm, to tiếng, cãi cọ nhau. Mặt khác, anh C ham tụ tập, chơi bời bạn bè, vô tâm với chị, không quan tâm, chăm lo đến chị khi chị bị ốm đau bệnh tật. Vì vậy, từ tháng 6/2024 chị về nhà mẹ đẻ và sống ly thân với anh C. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Tại bản tự khai và các ý kiến tiếp theo, bị đơn là anh Bùi Công C thừa nhận thời gian và điều kiện kết hôn như chị H trình bày. Anh cũng thừa nhận vợ chồng có xảy ra bất đồng do anh ham chơi bị chị H nhắc nhở nhiều lần nhưng anh chưa thay đổi được. Từ tháng 6/2024 chị H về nhà mẹ đẻ ở, anh có sang nói chuyện nhưng chị H không quay lại. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Anh chị đều trình bày, vợ chồng có 2 con chung là Bùi Thị H1, sinh ngày 26/10/2002 và Bùi Thị Ngọc C1, sinh ngày 12/10/2008. Hiện con lớn đã trưởng thành, con nhỏ đang ở với anh C. Khi ly hôn, chị H yêu cầu trực tiếp nuôi con nhỏ là Bùi thị Ngọc C1, còn con lớn đã trưởng thành nên không đặt vấn đề nuôi dưỡng. Anh C đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của con chung. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị H tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Cả hai anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Dương Thị H và bị đơn là anh Bùi Công C đều vắng mặt (chị H có đơn xin xét xử vắng mặt).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Bùi Công C
- - Về con chung: Giao cho chị Dương Thị H được trực tiếp nuôi con chung là Bùi Thị Ngọc C1, sinh ngày 12/10/2008. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra.
- - Về án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Dương Thị H
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thẩm quyền: Anh Bùi Công C cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù nguyên đơn là chị Dương Thị H và bị đơn là anh Bùi Công C vắng mặt nhưng chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên cần áp dụng khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Xem xét yêu cầu của chị Dương Thị H xin ly hôn anh Bùi Công C: Chị H và anh C kết hôn với nhau ngày 29/9/2001 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian dài chung sống hoà thuận và đã có hai con chung nhưng đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn hoà hợp, thường xảy ra bất đồng quan điểm, to tiếng cãi cọ nhau. Anh Chương ham chơi không quan tâm chăm sóc chị H khi chị H ốm đau bệnh tật. Do không cải thiện được nên chị H đã về nhà mẹ đẻ, sống ly thân với anh C từ tháng 6/2024. Nay chị H vẫn cương quyết xin ly hôn, còn anh C không có biện pháp tích cực nào để cải thiện tình cảm vợ chồng, cũng đến tham gia phiên toà, chứng tỏ anh C không thiết tha với nguyện vọng đoàn tụ. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh C.
[4]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Bùi Thị H1, sinh ngày 26/10/2002 và Bùi Thị Ngọc C1, sinh ngày 12/10/2008. Hiện con lớn đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Đối với con nhỏ là Bùi Thị Ngọc C1, sinh ngày 12/10/2008, chị H yêu cầu trực tiếp nuôi, nguyện vọng của cháu C1 cũng mong muốn được ở với chị H, vì vậy, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị H tự nguyện không yêu cầu nên nghĩa vụ này không đặt ra đối với anh C cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
[5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Về án phí: Chị Dương Thị H thuộc hộ nghèo, thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên cần miễn án phí cho chị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Bùi Công C.
- Về con chung: Giao cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi con chung là Bùi Thị Ngọc C1, sinh ngày 12/10/2008. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra cho đến khi đương sự có yêu cầu.
- Án phí: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Dương Thị H.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 54/2024/HNGĐ - ST ngày 25/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về ly hôn
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Hằng Chương
