Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12 tháng 9 năm 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Môn.

2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Giáp Thị H, sinh năm 1982.

HKTT: Thôn Đ, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Trường Đ, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Chị H và anh Đ đều đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Giáp Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn T Đoàn kết hôn năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn B (nay là thôn Đ), xã S, thành phố B. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2020, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về công việc của hai vợ chồng, kinh tế gia đình, từ đó vợ chồng không tìm được tiếng nói chung về đóng góp kinh tế để cùng nuôi con, sinh hoạt gia đình. Sau đó, dần dần vợ chồng có khoảng cách, tình cảm phai nhạt dần. Đỉnh điểm mâu thuẫn vào khoảng tháng 02/2024, khi vợ chồng lại xảy ra bất hòa, cãi nhau do anh Đ thường xuyên uống rượu không quan tâm đến nuôi dạy con cái và đóng góp tiền nuôi con, sinh hoạt gia đình. Vợ chồng tuy vẫn ở cùng nhà nhưng không ai quan tâm gì đến ai, không nói chuyện gì với nhau, ăn uống sinh hoạt riêng. Từ đầu tháng 9/2024, chị và anh Đ đã ly thân. Chị đã mang con trai Nguyễn Minh Q về quê ngoại tại thôn Đ, xã V, huyện T sinh sống. Chị đang ở nhà chị gái là chị Giáp Thị N và đang xây nhà ở quê để tạo lập cuộc sống mới. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn và tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 03 con chung là Nguyễn Thùy D-sinh ngày 21/02/2002, Nguyễn Phương T1-sinh ngày 08/8/2009, Nguyễn Minh Q-sinh ngày 19/4/2015. Hiện cháu D đã trưởng thành, lấy chồng, khỏe mạnh bình thường nên chị không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu Q vì cháu còn nhỏ. Còn đối với cháu T1 nếu anh Đ có yêu cầu nuôi thì chị đồng ý để cho anh Đ nuôi cháu T1, còn anh Đ không có yêu cầu thì chị sẽ nuôi cháu T1. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu giải quyết. Hiện tại chị đang làm nghề buôn bán hải sản tự do tại chợ H1, thu nhập hàng tháng ổn định 10 triệu đồng, đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Trường Đ trình bày:

Anh và chị Giáp Thị H kết hôn năm 2000 và đăng ký kết hôn tại UBND xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn B (nay là thôn Đ), xã S, thành phố B. Quá trình chung sống từ khi kết hôn đến nay, anh xác định vợ chồng cũng có những mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, không còn hòa hợp trong lời ăn tiếng nói. Đến tháng 5/2024, giữa vợ chồng có xảy ra xích mích về công việc gia đình, làm ăn kinh tế và từ đó đến nay vợ chồng tuy vẫn ở cùng nhà nhưng không ai quan tâm gì đến ai, không nói chuyện gì với nhau, ăn uống sinh hoạt riêng. Tuy nhiên, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, vẫn có thể hàn gắn để đoàn tụ và vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn, mong chị H suy nghĩ lại việc ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có 03 con chung là Nguyễn Thùy D-sinh ngày 21/02/2002; Nguyễn Phương T1-sinh ngày 08/8/2009 và Nguyễn Minh Q-sinh ngày 19/4/2015. Hiện cháu D đã trưởng thành, lấy chồng, khỏe mạnh bình thường nên anh không yêu cầu giải quyết. Trường hợp nếu ly hôn, anh đề nghị nuôi cháu T1 và cháu Q, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh đang làm nghề tự do và chăn nuôi tại nhà, thu nhập hàng tháng ổn định 7 triệu đồng, đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ:

- Tại Biên bản xác minh ngày 19/8/2024, trưởng thôn Đ, xã S, thành phố B cung cấp: Chị H và anh Đ là vợ chồng, hiện đang sinh sống tại địa phương. Quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi cọ, xích mích nhưng vợ chồng vẫn bỏ qua cho nhau để cùng nuôi con. Tuy nhiên đến đầu năm nay, vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn về các vấn đề sinh hoạt gia đình. Hiện tại vợ chồng tuy vẫn sống chung một nhà nhưng không nói chuyện gì với nhau, sinh hoạt riêng mỗi người sống một kiểu, không ai quan tâm ai. Chị H và anh Đ có 03 con chung là Nguyễn Thùy D-sinh năm 2002, Nguyễn Phương T1-sinh năm 2009 và Nguyễn Minh Q-sinh năm 2015. Các cháu đều khoẻ mạnh bình thường, cháu D đã đi lấy chồng và sống ở khác sinh. Còn cháu T1 và cháu Q đang sinh sống với bố mẹ tại địa phương. Về điều kiện nuôi con, anh Đ và chị H đều làm công việc buôn bán ở chợ và chăn nuôi trồng trọt tại địa phương, đủ điều kiện nuôi con.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2024, cháu Nguyễn Minh Q trình bày: Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn, không sinh sống cùng với nhau nữa thì các cháu muốn được ở với mẹ.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2024, cháu Nguyễn Phương T1 trình bày: Trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn, không sinh sống cùng với nhau nữa thì cháu ở với ai cũng được.

- Tại Biên bản làm việc ngày 11/9/2024, chị Giáp Thị N-chị gái chị Giáp T2 H cung cấp: Chị H và anh Đoàn kết h tháng 09/2000 sau một thời gian tự do tìm hiểu, có được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Năm 2020, chị H và anh Đ bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Chị H có nói với gia đình chị nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về công việc của hai vợ chồng, kinh tế gia đình, không tìm được tiếng nói chung về đóng góp kinh tế để cùng nuôi con, sinh hoạt gia đình. Đỉnh điểm mâu thuẫn vào khoảng tháng 02/2024, khi vợ chồng lại xảy ra bất hòa, cãi nhau do anh Đ thường xuyên uống rượu không quan tâm đến nuôi dạy con cái và đóng góp tiền nuôi con, sinh hoạt gia đình. Đầu tháng 9/2024, chị H cùng con trai Nguyễn Minh Q về quê ngoại tại xã V, huyện T sinh sống. Hiện chị H đang sống ở nhà chị và đang xây nhà ở quê để ổn định cuộc sống sau này. Nay chị H xin ly hôn anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Hiện nay chị H đang làm kinh doanh buôn bán tự do, thu nhập cụ thể bao nhiêu thì chị không rõ.

* Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thống nhất được việc giải quyết toàn bộ vụ án.

*Tại phiên tòa hôm nay, chị H và anh Đ đều xin vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H được ly hôn anh Đ.

+ Về con chung: Giao chị Giáp Thị H nuôi con chung Nguyễn Minh Quân-sinh ngày 19/4/2015. Giao anh Nguyễn Trường Đ nuôi con chung Nguyễn Phương Thúy-sinh ngày 08/8/2009. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị H thì thấy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung và anh Đ hiện đang cư trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị H và anh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 238 bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đoàn kết h năm 2000 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh Đ đều xác định cuộc sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về công việc, kinh tế gia đình. Chị H và anh Đ đã ly thân từ đầu tháng 9/2024. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng chị H cương quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh Đ và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H về việc ly hôn anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung:

[4.1] Chị H và anh Đ có 03 con chung là Nguyễn Thùy D-sinh ngày 21/02/2002, Nguyễn Phương T1-sinh ngày 08/8/2009 và Nguyễn Minh Q-sinh ngày 19/4/2015. Hiện cháu D đã trưởng thành, lấy chồng, khỏe mạnh bình thường nên chị H, anh Đ không yêu cầu giải quyết. Chị H đề nghị nuôi con chung Nguyễn Minh Quân, anh Đ đề nghị nuôi con chung Nguyễn Phương Thúy. Xét thấy, cả chị H và anh Đ đều có công việc, thu nhập và nơi ở ổn định nên cần giao cho chị H nuôi con chung Nguyễn Minh Quân, giao cho anh Đ nuôi con chung Nguyễn Phương Thúy đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của cả hai con chung.

[4.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H và anh Đ đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4.3] Chị H và anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 6, Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Giáp Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trường Đ.
  2. Về con chung: Giao cho chị Giáp Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Minh Q-sinh ngày 17/4/2015; Giao cho anh Nguyễn Trường Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nguyễn Phương T1- sinh ngày 8/8/2009. Chị H và anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung, không ai được cản trợ chị H, anh Đ thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
  3. Về án phí: Chị Giáp Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo biên lai số BLTU/23/0001930 ngày 22/7/2024. Xác nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- VKSND TP. Bắc Giang;

- CCTHADS TP. Bắc Giang;

- UBND x.Song Mai, tp. Bắc Giang, Bắc Giang.

- Các đương sự.

- Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giáp Thị H - Nguyễn Trường Đ Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger