|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Trọng Kim
Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
tham gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Tấn T, sinh năm 1999, tại Bình Thuận
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C, đường H, tổ E, khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tấn H và bà Huỳnh Thị S; Vợ: Nguyễn Thị H1; con có 01 người; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Phạm Văn Đ, sinh năm 2004; nơi cư trú: số B, đường H, tổ C, khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
2
- - Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999; nơi thường trú: Khu phố F, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
Người làm chứng:
- - Nguyễn Văn S1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu tháng 9/2023, Lê Tấn T, sinh năm 1999, trú tại khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận có ý định mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời nên đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ trên mạng xã hội Facebook với giá 8.000.000 đồng (800.000 đồng/01 hộp pháo nổ). Thạch đến ngân hàng để chuyển số tiền 8.000.000 đồng cho người bán pháo hoa nổ và người này gởi 10 hộp pháo hoa nổ cho T qua xe khách. T nhận và cất giấu số pháo nổ trên ở trong nhà của mình. Ngày 20/11/2023, T bán 02 hộp pháo nổ cho 01 người đàn ông ở tỉnh Đồng Nai (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 1.800.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2024, Phạm Văn Đ sinh năm 2004 trú tại khu phố B, thị trấn V, huyện Đ điện thoại hỏi mua 08 hộp pháo nổ và T đồng ý bán với giá 1.230.000 đồng/01 hộp pháo nổ. Đ đồng ý mua và nói T giao pháo nổ tại quán H2 thuộc khu phố I, thị trấn V, huyện Đ. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 86B8-38.108 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 sinh năm 1999 trú tại khu phố F, thị trấn V, huyện Đ chở theo 08 hộp pháo nổ đến quán H2 thuộc khu phố I, thị trấn V, huyện Đ để giao. Đến nơi, T bỏ thùng carrton bên trong có 08 hộp pháo nổ phía trước cổng và quay xe ra về. Khi đi được 01 đoạn thì bị lực lượng Công an yêu cầu T dừng xe kiểm tra. Qua làm việc, T khai nhận là chở pháo hoa nổ đi giao. Công an thị trấn V tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm việc theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 08 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (16,5 x 16,5 x 11,7) cm, bên ngoài kí hiệu JIQINGZHIYE, 49 SHOTS gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 13kg.
Vật chứng:
3
- - 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (16,5 x 16,5 x 11,7) cm, bên ngoài có kí hiệu JIQINGZHIYE, 49 SHOTS.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 86B8-38.108 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị H1.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-HS ngày 02/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Tấn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng, không oan.
Trong phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về điều luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Tấn T phạm tội Buôn bán hàng cấm.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tấn T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (16,5 x 16,5 x 11,7)cm, bên ngoài có kí hiệu JIQINGZHIYE, 49 SHOTS.
Bị cáo Lê Tấn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt người làm chứng không có lý do, cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi và tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Lê Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Vào tháng 9 năm 2023, thông qua mạng xã hội Lê Tấn T đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ với giá 8.000.000 đồng để bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2024 Phạm Văn Đ điện thoại đặt mua 08 hộp pháo hoa nổ, sau khi thoả thuận T đồng ý bán cho Đ 08 hộp pháo hoa nổ với giá 1.230.000 đồng/hộp, hai bên thoả thuận giao pháo nổ tại quán H2 thuộc khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, sau khi giao pháo sẽ thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản.
Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 86B8-38.108 chở theo 08 hộp pháo hoa nổ có khối lượng là 13kg đi giao thì bị bắt giữ, đây là hàng cấm buôn bán, cho nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi buôn bán 13 kg pháo hoa nổ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm tàng trữ,
5
cấm sử dụng, cấm buôn bán, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiềm ẩn nhiều rủi ro, cháy nổ, gây ô nhiễm, lãng phí. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được pháo hoa nổ là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và việc buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nên cần xem xét hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh còn đề nghị áp dụng thêm tình tiết “Phạm tội lần đầu” theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên “Phạm tội lần đầu” không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên không có căn cứ để áp dụng.
[4] Về hình phạt chính:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Tuy nhiên, bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên không có căn cứ để áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh. Đồng thời bị cáo buôn bán pháo hoa nổ nhằm mục đích kiếm lời, vụ lợi cá nhân, tại phiên toà bị cáo khai nhận có việc làm và có thu nhập ổn định, nên có khả năng thi hành án. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là đúng quy định, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về vật chứng:
Đối với 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (16,5 x 16,5 x 11,7) cm, bên ngoài có kí
6
hiệu JIQINGZHIYE, 49 SHOTS. Đây là vật cấm buôn bán, cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với các vật chứng khác đã được cơ quan cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra, nên không xem xét.
[6] Đối với đối tượng Nguyễn Văn Đ1 đặt mua pháo từ bị cáo Lê Văn T1, tuy nhiên, chưa hoàn thành việc giao dịch, nên không cấu thành tội phạm, nên không xử lý hình sự.
[7] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Tấn T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1. Tuyên bố: Lê Tấn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Phạt: Lê Tấn T số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
2. Về vật chứng:
7
Tịch thu, tiêu hủy: 07 (bảy) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài đều có hình ảnh pháo hoa nhiều màu sắc, kích thước các hộp (16,5 x 16,5 x 11,7)cm, bên ngoài có kí hiệu JIQINGZHIYE, 49 SHOTS.
(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/8/2024).
3. Về án phí: Lê Tấn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn Thạch "Buôn bán hàng cấm"
