Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày 16 tháng 8 năm 2024

“V/v tranh chấp vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, ông Nguyễn Thanh Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 191/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H (M). Địa chỉ trụ sở chính: số E, N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên lạc: Tầng B, Tòa nhà TNR, số A - 192, Nguyễn Công T, P. N, quận A, TP ..
  • Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê Anh T1, sinh năm 1988; địa chỉ: số D, đường T, phường C, thành Phố C, tỉnh An Giang (Theo Giấy ủy quyền số: 7983/2023/GUQ-TGĐ12, ngày 28/8/2023 của Ngân hàng TMCP H) (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1976 và ông Đỗ Công T2, sinh năm: 1973, cùng cư trú: tổ F, đường K, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của Ngân hàng TMCP H (Ngân hàng) trình bày:

Ngân hàng có cho bà L và ông T2 vay theo các hợp đồng như sau:

  • - Hợp đồng số 44-APU/2021, ngày 27/10/2021. Vốn vay: 700.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động, thực hiện hoạt động trồng bưởi da xanh, trồng lúa, tiêu dùng (mua sắm trang thiết bị gia đình); Thời hạn vay: 60 tháng; Lãi suất: 11,6%/năm; Lãi suất quá hạn:150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn;
  • 2
  • - Hợp đồng Tín dụng hạn mức số 3793 ngày 20/11/2021 giữa Ngân hàng TMCP H – Chi nhánh C – P với bà L. Vốn tiền vay: 100.000.000 đồng; Mục đích vay: Phục vụ đời sống, nhu cầu chi tiêu cá nhân; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất: 16%/năm; Lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay thông thường trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Khi vay bà L, ông T2 có thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01-2659682/2021/BĐ, ngày 27/10/2021 (Hợp đồng thế chấp số 01, ngày 27/10/2021) gồm: (1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02900, thửa đất số 1, tờ bản đồ số 18, diện tích 71,8m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 13/12/2016 cho ông T2, bà L. (2) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS03894, thửa đất số 44; tờ bản đồ số 14, diện tích 75m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 05/9/2019 cho ông T2, bà L. (3) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H.00460gE, thửa đất số 45; tờ bản đồ số 14; diện tích: 75m² do UBND thị xã C (nay là TP C cấp ngày 16/5/2007, cập nhật chuyển nhượng ngày 23/8/2007). Đất thế chấp toa lạc xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Thực hiện hợp đồng ngày 30/10/2021, M đã giải ngân cho bà L số tiền 700.000.000 đồng và cấp cho bà L hạn mức thấu chi 100.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà L, ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo thỏa thuận.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà L, ông T2 thanh toán vốn lãi tạm tính đến ngày 16/8/2024, vốn vay 659.865.045 đồng; lãi 189.766.910 (gồm lãi trong hạn 136.465.964 đồng, lãi quá hạn 53.300.946 đồng). Tổng cộng: 849.631.955 đồng.

Kể từ ngày 17/8/2024, bà L và ông T2 còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán hết khỏan nợ.

Trường hợp bà L, ông T2 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01-2659682/2021/BĐ, ngày 27/10/2021 để thu hồi nợ.

Tòa án không tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được do bà L, ông T2 vắng mặt.

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc:
    • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ 2 đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
    • + Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,

3

thể hiện việc thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng với bà L, ông T2 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do bà L, ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L, ông T2 trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi tổng số tiền 849.631.955 đồng và trả lãi phát sinh sau ngày 16/8/2024 với lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi bà L, ông T2 trả dứt nợ cho Ngân hàng là có căn cứ. Đồng thời, khi bản án có hiệu lực pháp luật phía bà L, ông T2 không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7,8 Nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng,

[1] Về thẩm quyền:

Ngân hàng khởi kiện hợp đồng vay tài sản với bị đơn. Bị đơn có đăng ký thường trú tại thành phố C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về nội dung,

[3] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L, ông T2 trả tiền vay. Ngân hàng cung cấp Hợp đồng vay, Hợp đồng tín dụng mạn mức, hợp đồng thế chấp, bảng kê tính lãi... thể hiện nguyên đơn, bị đơn có xác lập giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo Hợp đồng. Bà L, ông T2 đã nhận tiền vay nhưng không thực hiện trả nợ đúng hạn và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả vốn, lãi là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7,8 Nghị quyết 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

Buộc bà L, ông T2 thanh toán cho Ngân hàng vốn, lãi tạm tính đến ngày 16/8/2024, vốn vay 659.865.045 đồng; lãi 189.766.910 (gồm lãi trong hạn 136.465.964 đồng, lãi quá hạn 53.300.946 đồng). Tổng cộng: 849.631.955 đồng.

4

“Kể từ ngày 17/8/2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[4] Về hợp đồng thế chấp:

Để đảm bảo các khoản vay bà L, ông T2 có lập Hợp đồng thế chấp số 01, ngày 27/10/2021 để thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: (1) GCN số CS02900, diện tích: 71,8m²; (2) GCN số CS03894, diện tích: 75m²; GCN số H.00460gE, diện tích: 75m². Đất tọa lạc xã V, thành phố C, tỉnh An Giang. Cả 03 giấy chứng nhận này do bà L, ông T2 đứng tên.

Xét thấy hợp đồng thế chấp số 01, ngày 27/10/2021 được các bên tự nguyện ký kết, có công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là đúng quy định pháp luật.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

  • - Bị đơn có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 37.488.959 đồng.
  • - Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Các Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UB TVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H.

Buộc bà Phạm Thị L, ông Đỗ Công T2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP H tiền vốn gốc và lãi suất vay tính đến ngày 16/8/2024 là 849.631.955 đồng (trong đó, vốn gốc 659.865.045 đồng, tiền lãi trong hạn 136.465.964 đồng, lãi quá hạn 53.300.946 đồng).

5

Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (17/8/2024), bà Phạm Thị L và ông Đỗ Công T2 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm

Bà Phạm Thị L và ông Đỗ Công T2 phải chịu 37.488.959 (ba mươi bảy triệu, bốn trăm tám mươi tám nghìn, chín trăm năm mươi chín) đồng.

Hoàn trả số tiền 16.813.000 (Mười sáu triệu, tám trăm mười ba nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003589 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Ngân hàng TMCP H.

3. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà L, ông T2 là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp vay tài sản

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger