Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-PT

Ngày 29-7-2024

“v/v Tranh chấp về yêu cầu huỷ Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất, giải quyết hậu quả của
huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Duy Ước.

Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thuý Hằng.

Ông Bùi Đức Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phan Hải, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Lam Thị Dung, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giải quyết hậu quả của huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • - Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1939.
    Nơi cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Bà Vũ Thị T, sinh năm 1944.
    Nơi cư: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Ông Đ có mặt, bà T vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Văn Đ: Bà Dương Thị H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Vũ Quốc H1, sinh năm 1970.

Nơi cư trú: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Vũ Mạnh P, sinh năm 1976.
  • - Bà Tô Thị Đ1, sinh năm 1968.
  • - Ông Vũ Quốc Đ2, sinh năm 1973.
  • - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1976.

Cùng cư trú tại: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Ông P có mặt, còn lại đều vắng mặt.

- Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Ngô Đình Đ3, chức vụ: Phó Chủ tịch.

Có mặt.

- Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (H3) chi nhánh Q, Phòng G.

Địa chỉ: Số A T, Tổ B, khu H, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Vũ Quốc H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Tô Thị Đ1:

  1. Chị Lê Thị Thu T1, sinh năm 1999.
    Nơi cư trú: khu G, phường N, thị xã Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Anh Bùi Huy Đ4, sinh năm 1998.
    Nơi cư trú: Tổ H khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
  3. Ông Bùi Quang T2, sinh năm 1993.
    Nơi cư trú: Thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Chị T1 có mặt, còn lại đều vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - ông Vũ Quốc H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Tô Thị Đ1: Luật sư Bùi Quang T2, Văn phòng Luật sư 365.

Địa chỉ số A, Trần Khách D, khu G, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Mạnh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, phần trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T là vợ chồng, sinh được 05 người con chung, gồm: Vũ Văn T3, Vũ Thị T4, Vũ Quốc H1, Vũ Quốc Đ2 và Vũ Mạnh P. Năm 1998, được sự giúp đỡ của anh chị em trong gia đình, ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 288m² đất của bà Vũ Thị K tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, vợ chồng anh Vũ Quốc H1 và chị Tô Thị Đ1 gặp hoạn nạn phải bán nhà, ông bà đã gọi vợ chồng ông H1 về cho quyền sử dụng 64m² tại thửa đất trên để xây dựng nhà. Năm 2019, bà T3 bị tai biến, để hợp thức quyền sử dụng đất, ông Đ bà T3 và ông H1 thống nhất lập hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 23/01/2019, ông bà được UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518381 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01466, diện tích 288m² đối với thửa đất số 314, tờ bản đồ số 17. Anh Vũ Quốc Đ2 được ông và bà T3 tách một phần thửa đất trên tặng cho quyền sử dụng diện tích 130m²; còn quyền sử dụng 158m² đất ông bà giữ lại làm nơi sinh sống cùng con trai út Vũ Mạnh P đồng thời làm nơi thờ cúng sau này bàn giao lại cho anh P trông coi, việc thoả thuận không được lập thành văn bản nhưng ông bà và các con đều đồng ý. Tháng 3 năm 2019, lợi dụng hoàn cảnh bà T3 bị bệnh nặng, anh P đi chấp hành án tù, ông H1 đã lừa ông Đ, bà T3 rằng hứa thay mặt gia đình trông nom, chăm sóc bố mẹ khi về già và có trách nhiệm thờ cúng. Do tin tưởng ông H1 nên ông bà đồng ý tặng cho ông H1, bà Đ1 quyền sử dụng 158m² đất (gồm quyền sử dụng 94m² đất ông bà đang quản lý, sử dụng và quyền sử dụng 64m² đất vợ chồng ông H1 quản lý, sử dụng) đối với thửa đất số 314 tờ bản đồ số 17, theo Hợp đồng tặng cho lập ngày 14/02/2019. Căn cứ theo đó, ông H1 và bà Đ1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 518145, số vào sổ CH01598 do UBND thị xã Q cấp ngày 01/3/2019. Sau đó, Ông Đ, bà T3 vẫn tiếp tục sống cùng vợ chồng ông H1, bà Đ1 trên thửa đất này. Đến năm 2021, do ngôi nhà 26,4m² ông bà đang ở đã xuống cấp, ông bà có ý định tu sửa thì ông H1 ngăn cản. Ông H1 đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên thế chấp Ngân hàng vay tiền và nói nếu không có tiền trả Ngân hàng sẽ bán nhà của ông bà để lấy tiền trả. Vợ chồng ông H1 đã có những lời lẽ, hành động lăng nhục, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của ông bà. Năm 2021, anh Vũ Mạnh P chấp hành xong án trở về thì vợ chồng ông H1 không đồng ý cho ở và đuổi đi.

Do ông H1 đã hứa hẹn cam kết nhưng không thực hiện điều kiện tặng cho, dùng thủ đoạn chiếm đoạt quyền sử dụng 94m² đất của mình và anh Vũ Mạnh P hiện nay chưa có nhà để ở, ông Đ, bà T3 khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho là ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị T với bên được tặng cho là Vũ Quốc H1 và Tô Thị Đ1 do Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã C, thị xã Q chứng thực số 07 quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD ngày 14/02/2019 và giải quyết hậu quả của hủy Hợp đồng tặng cho: ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn (ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T) quyền sử dụng 158m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) CP 518381 do UBND thị xã Q cấp ngày 23/01/2019 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu Toà án tuyên hủy một phần Hợp đồng tặng cho chứng thực số 07 quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD ngày 14/02/2019 và giải quyết hậu quả của việc hủy một phần Hợp đồng tặng cho: ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh q sử dụng 94m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518381 do UBND thị xã Q cấp ngày 23/01/2019 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh t đất số 314, tờ bản đồ số 17, diện tích 158,0m² tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối với quyền sử dụng 64m² đất đã tặng cho vào năm 1998, ông bà đồng ý để nguyên không yêu cầu huỷ bỏ.

Bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn (ông Vũ Quốc H1) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà Tô Thị Đ1) cùng có quan điểm:

Năm 2019, ông Đ và bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 314, tờ bản đồ số 17, diện tích 288m² tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nguồn gốc thửa đất này do ông H1, bà Đ1 cùng ông Đ, bà T chung tiền mua vào năm 1996. Ông H1, bà Đ1 cùng bố mẹ ở trên thửa đất này từ những năm 1996. Đến năm 2018, để hợp thức hóa thửa đất nên gia đình ông H1, bà Đ1 đã đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Tuy nhiên, do không có tiền làm sổ đỏ nên ông H1, bà Đ1 đã phải đi vay lãi để đứng ra làm sổ thay cho bố mẹ. Chính ông H1, bà Đ1 đã nộp cho Nhà nước số tiền 65.940.000đ thuế nhà đất. Trước khi được cấp sổ đỏ, ông Đ và bà T nói sẽ tặng cho ông H1, bà Đ1 một phần thửa đất này vì ông H1, bà Đ1 đã cùng đóng góp, tôn tạo, sinh sống sử dụng ổn định trên thửa đất này. Lúc đó, đây cũng là chỗ ở duy nhất của ông H1, bà Đ1. Đến ngày 23/01/2019, ông Đ bà T được cấp sổ đỏ đối với toàn bộ diện tích 288m² nêu trên. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận, đầu tháng 02/2019, ông Đ, bà T gọi ông H1, bà Đ1 và nói bố mẹ giữ đúng lời hứa là tặng cho ông H1, bà Đ1 một phần quyền sử dụng thửa đất này để vợ chồng ông H1, bà Đ1 có chỗ an cư lập nghiệp sau này. Do đó, ngày 14/02/2019 ông Đ, bà T cùng ông H1, bà Đ1 ra UBND xã C, thị xã Q để chứng thực Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Phần diện tích mà ông Đ, bà T cho vợ chồng ông H1, bà Đ1 là 158,0m² đất ở cùng 02 căn nhà cấp 4 và các công trình phụ. Tất cả việc tặng cho hoàn toàn là ý chí tự nguyện của ông Đ và bà T. Sau khi nhận tặng cho đất ông H1, bà Đ1 tiếp tục để ông Đ, bà T ở trên mảnh đất này. Tuy nhiên, vì căn nhà cũ đã sập xệ và một phần để trả nợ số tiền đã vay khi làm sổ đỏ cho ông Đ, bà T nên ngay sau khi được tặng cho thửa đất trên, vợ chồng ông H1, bà Đ1 đã thế chấp mảnh đất này tại Ngân hàng. Đến nay, ông H1, bà Đ1 vẫn đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh Q (H3). Sau khi tặng cho ông H1, bà Đ1 thửa đất trên, nguyện vọng của ông Đ, bà T là muốn tặng cho phần còn lại cho con trai là Vũ Quốc Đ2 do anh Đ2 chưa có nhà ở riêng. Ngày 15/3/2019, ông Đ bà T cùng anh Vũ Quốc Đ2 và vợ là Nguyễn Thị X đã ký Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối quyền sử dụng 130,0m² đất còn lại tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, do anh Đ2 muốn ở chỗ khác nên vợ chồng anh Đ2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông H1, bà Đ1 (theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/5/2019). Đối với thửa đất được bố mẹ tặng cho anh chị Hồng Đ5 vẫn sinh sống tại đây trên căn nhà cấp 4, đồng thời ngôi nhà còn lại vợ chồng ông H1, bà Đ5 vẫn để ông Đ, bà T ở trên đất để tiện thăm nom chăm sóc bố mẹ tuổi già, không có tranh chấp. Đến khi anh P (em trai ông H1) sau khi chấp hành án về địa phương không có chỗ ở, vợ chồng ông H1, bà Đ5 cũng để anh P ở cùng bố mẹ ở ngôi nhà trên.

Nay ông Đ, bà T khởi kiện đến Tòa án yêu cầu hủy một phần Hợp đồng tặng cho giữa bên tặng cho là ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị T với bên được tặng cho là Vũ Quốc H1 và Tô Thị Đ1 do UBND xã C, thị xã Q chứng thực số 07, quyển số 01/2019-SCT/HĐGD ngày 14/02/2019; đồng thời giải quyết hậu quả của huỷ một phần Hợp đồng tặng cho: trả lại cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh q sử dụng 94m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518381 do UBND thị xã Q cấp ngày 23/01/2019. Ông H1, bà Đ1 hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn việc ông Đ, bà T tặng cho vợ chồng ông bà quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là hoàn toàn tự nguyện, việc tặng cho được thực hiện đúng theo trình tự, quy định pháp luật. Ông H1, bà Đ1 có quyền sử dụng thửa đất số 605 (tách từ thửa 314), tờ bản đồ số 17, diện tích 158,0m² tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518145, số vào sổ cấp GCN: CH 01598 do UBND thị xã Q cấp ngày 01/03/2019. Ông bà không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân xã C có quan điểm:

Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật; đề nghị các bên đương sự hoà giải để giữ tình cảm gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Vũ Mạnh P có quan điểm:

Năm 2019, khi ông P đi chấp hành án thì ở nhà ông Vũ Quốc H1 đã lừa dối bố mẹ và ông P, ông H1 tự lập văn bản không có sự đồng thuận của bố mẹ và ông P, giả chữ ký để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H1, bà Đ1. Ông là thành viên của gia đình, quyền sử dụng đất là của chung của cả gia đình, khi ông không ký vào văn bản cho tặng hay chuyển nhượng thì việc chuyển nhượng không thể thực hiện được. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông H1 bà Đ1 là bất hợp pháp. Ông P yêu cầu Toà án buộc vợ chồng ông H1 phải trả lại quyền sử dụng đất cho bố mẹ để ông Đ, bà T có nơi sinh sống, thờ cúng tổ tiên và để ông có chỗ ở. Vào năm 1998, bố mẹ đã cho vợ chồng ông H1 64m² đất để sinh sống với điều kiện phải chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ và thờ cúng tổ tiên. Việc ông H1 đã không thực hiện nghĩa vụ tặng cho, bất hiếu thì bố mẹ có quyền đòi lại tài sản đã tặng cho.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H có quan điểm: Ngày 27/12/2021, Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H - đại diện theo uỷ quyền Chi nhánh Q ký Hợp đồng tín dụng số 30792/21MB/HĐTD với bên vay là bà Tô Thị Đ1 và ông Vũ Quốc H1. Mục đích sử dụng vốn vay để mở rộng sản xuất kinh doanh thuỷ, hải sản thời hạn 84 tháng. Tài sản thế chấp cho khoản vay là quyền sử dụng thửa đất số 605 (tách ra từ thửa 314) tờ bản đồ 17 tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; diện tích 158m² theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 30792/21/MB/HĐBĐ ngày 27/12/2021. Hiện tại, ông H1 và bà Đ1 vẫn duy trì Hợp đồng tín dụng nêu trên với Phòng G, thanh toán khoản vay đầy đủ, không vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập trong vụ án này, đã được giải thích quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và được tiếp cận tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và không có ý kiến gì. Đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng trong suốt quá trình xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Vũ Quốc Đ2 và bà Nguyễn Thị X: đã được Toà án tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ nhưng không tới Toà án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Sơ đồ do vẽ thể hiện: Thửa đất số 605 (tách từ thửa 314, tờ bản đồ số 17 theo GCNQSDĐ số CP 518145, số vào sổ cấp GCN CH01598 do UBND thị xã Q cấp ngày 01/3/2019 mang tên ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 hiện ở thôn C, xã C là đúng. Diện tích theo Giấy chứng nhận 158m² giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1) có giá 395.000.000đ. Tài sản trên đất là 02 ngôi nhà cấp 4 được ngăn bằng 01 bức tường xây gạch xỉ. Ngôi nhà giáp ngõ đi 3,92m² = 38,4m2 trị giá 17.553.944đ; ngôi nhà giáp ngõ đi 3,63m² = 26,4m² trị giá 12.068.337đ.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến căn cứ vào Điều 117, Điều 457, Điều 459, Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 100, Điều 167, khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả của huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T) về việc yêu cầu Tòa án tuyên huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho là ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị T với bên được tặng cho là Vũ Quốc H1 và Tô Thị Đ1 do Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q chứng thực số 07 quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD ngày 14/02/2019 và giải quyết hậu quả của hủy Hợp đồng: ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh q sử dụng 94m2 đất theo GCNQSDĐ CP 518381 do UBND thị xã Q cấp ngày 23/01/2019 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản) và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Vũ Mạnh P có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do, ông Vũ Quốc H1 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ tặng cho, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thửa đất đang tranh chấp là chỗ ở duy nhất của ông Đ, bà H1 và ông P.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Vũ Mạnh P giữ nguyên nội dung kháng cáo và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn đồng ý với kháng cáo của ông P. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Mạnh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Mạnh P thực hiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Mạnh P, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Về nguồn gốc của thửa đất tranh chấp (thửa đất số 605 tờ bản đồ số 17 có diện tích 158m² tại địa chỉ Thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh): Các bên đương sự đều thừa nhận, tháng 11/1998, ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Văn H2 và bà Vũ Thị K, Năm 1998, ông H1 và bà Đ1 đến ở cùng ông Đ, bà T tại thửa đất trên. Đến ngày 23/01/2019, UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518381, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01466 đối với thửa đất số 314, tờ bản đồ 17, diện tích 288m² đất ở tại nông thôn mang tên ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T nên đây là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất chung của ông Đ và bà T, không phải đất của hộ gia đình chung với các con (trong đó có ông Vũ Mạnh P). Do vậy, ông Đ, bà T là người có quyền của người sử dụng đất và có toàn quyền chuyển nhượng, cho tặng...

Ngày 14/02/2019, ông Đ, bà T tách một phần diện tích để tặng cho vợ chồng con trai là ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 quyền sử dụng 158m², đây là quyền định đoạt của người sử dụng đất. Trên cơ sở hợp đồng tặng cho, ông H1 và bà Đ1 được UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

[2.2] Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất:

Về việc ký kết hợp đồng: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất có nội dung tặng cho diện tích 158,0m² đất ở lâu dài tách từ thửa 314 tờ bản đồ số 17, trên đất có hai ngôi nhà cấp 4 (35,7m² và 26,4m²) nên đây là tình tiết không phải chứng minh và phù hợp với Hợp đồng được chứng thực tại UBND xã C ngày 14/2/2019 các bên ký kết đều có đủ năng lực hành vi, cùng ký vào hợp đồng và cam kết tự nguyện, không bị lừa đối, ép buộc.

Về đối tượng hợp đồng:

Nguyên đơn cho rằng việc tặng cho bị đơn quyền sử dụng đất chỉ có 64m2 còn bị đơn lại trình bày việc cho tặng là diện tích 158,0m² đất ở lâu dài tách từ thửa 314 tờ bản đồ số 17, trên đất có hai ngôi nhà cấp 4 (35,7m² và 26,4m²). Căn cứ nội dung hợp đồng hai bên đã ký kết xác định đối tượng hợp đồng cho tặng thể hiện bên tặng cho (ông Đ, bà T) tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bên được tặng cho (ông H1, bà Đ1) diện tích 158,0m² đất ở lâu dài tách từ thửa 314 tờ bản đồ số 17, tài sản trên đất có hai ngôi nhà cấp 4 (35,7m² và 26,4m²), khi thực hiện hợp đồng bên được cho tặng đã làm thủ tục tách thửa, ông Đ ký trích đo địa chính cùng ông H1, cán bộ địa chính và có xác nhận của UBND xã C và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người cho tặng cũng đã thực hiện tách thửa, biết việc tách thửa và giảm diện tích từ việc cho tặng ông H1, bà D1.

Sau khi cho tặng 158m² đất ông Đ, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới giảm còn 130m2 nhưng cũng không có ý kiến gì, trong hồ sơ tách thửa đã ghi rõ phần diện tích đất còn lại gia đình sử dụng (đất ở) lấy thửa mới 134. Ngoài ra, khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi tách thửa đến ngày 15/3/2019 ông Đ6 và bà T đã sử dụng giấy chứng nhận và ký hợp đồng và hồ sơ tặng cho Quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 130m2 (thửa được tách mới) cho con trai Vũ Quốc Đ2 và con dâu Nguyễn Thị X.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 14/2/2019, việc ông Đ cho tặng tách thửa cho ông H1 đến ngày cho tặng ông Vũ Quốc Đ2 ngày 15/3/2019 là cả một khoảng thời gian gian dài ông Đ và bà T đã có nhiều hoạt động trực tiếp liên quan đến diện tích đất tranh chấp như việc ký thủ tục tách thửa đất, được nhận, giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện quyền của người sử dụng đất ký hợp đồng cho tặng ông Đ2 quyền sử dụng đất đã thể hiện việc ông, bà biết rõ diện tích đất được tách thành hai thửa trong đó có thửa cho ông H1. Việc ông Đ2 chuyển nhượng diện tích đất 130m2 (Đất ông Đ và bà T cho ông Đ2) cho ông H1 ngày 09/5/2019 nên có đủ cơ sơ chứng minh ông Đ2, bà T biết rõ việc cho tặng ông H1 với diện tích 158m2 và việc tham gia các giao dịch dân sự trong khoảng thời gian này là minh mẫn, nhận thức được hành vi của mình nên việc ông Đ và bà T cho rằng chỉ cho tặng 64m2 và bị lừa dối không nhận thức được do bị bệnh là không có cơ sở.

Về điều kiện tặng cho của hợp đồng:

Ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị T và Vũ Mạnh P cho rằng việc tặng cho có điều kiện ông H1 phải thờ cúng tổ tiên, trông nom, phụng dưỡng bố mẹ khi già yếu, ốm đau. Căn cứ nội dung hợp đồng tặng cho giữa ông Đ, bà T và ông H1, bà Đ1 không có điều khoản thể hiện nội dung về điều kiện tặng cho.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ, bà T, ông P không có tài liệu, chứng cứ nào xác định việc ông H1, bà Đ1 lừa dối ông bà để ký hợp đồng tặng cho, không có tài liệu chứng cứ chứng minh nội dung điều kiện kèm theo của việc tặng cho. Vì vậy, không có cơ sở để xác định, ông Vũ Quốc H1 đã gian dối trong việc ký kết hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ tặng cho nên không có căn cứ chấp nhận.

Sau khi xét xử sơ thẩm ông Đ và bà T không kháng cáo đối với bản án sơ thẩm về các nội dung trên nên đã đồng ý với nội dung, quyết định của bản án sơ thẩm và Bản án đã có hiệu lực với ông Đ và bà T.

[2.3] Xét quan điểm của ông P về việc quyền sử dụng đất là của chung của cả gia đình, khi ông không ký vào văn bản cho tặng hay chuyển nhượng thì thửa đất không thể mang tên vợ chồng ông H1. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, thửa đất trên có nguồn gốc do ông Đ và bà T nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn H2 và bà Vũ Thị K (ngoài ra không còn ai khác tham gia) và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nên đây là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất cho ông Đ và bà T và không có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, quyền sở hữu chung của hộ gia đinh trong đó có ông P. Như vậy, đất và tài sản trên đất là của ông Đ và bà T nên họ có quyền định đoạt. Ông Đ và bà T đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất định đoạt tài sản là căn cứ chấm dứt quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, do vậy ông P không phải là người có quyền sử dụng đất, sở hữu tài sản trên đất và không phải là chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng nên không có quyền và nghĩa vụ gì trong hợp đồng, nên kháng cáo của ông P không có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của kiểm sát viên viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Từ những lập luận trên, HĐXX có đủ căn cứ xác định nguyên đơn đã cho tặng bị đơn diện tích đất 158m² đất nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vây, kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, cấp sơ thẩm đã quyết định nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) đã trả lại nguyên đơn là đúng quy định.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do ông Đ và bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí vì vậy, ông bà thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Vũ Mạnh P, vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Vũ Mạnh P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Mạnh P.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, khoản 2 Điều 119, Điều 457, 459, Điều 502 Bộ luật Dân sự; Điều 95, Điều 100, khoản 1 và điểm a, d khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168 và Điều 188 của Luật Đất đai; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T đối với bị đơn ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 về việc yêu cầu Tòa án tuyên huỷ một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên tặng cho là ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị T với bên được tặng cho là Vũ Quốc H1 và Tô Thị Đ1 do Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q chứng thực số 07 quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD ngày 14/02/2019 và giải quyết hậu quả của hủy Hợp đồng: ông Vũ Quốc H1 và bà Tô Thị Đ1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị Thanh q sử dụng 94m² đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 518381 do Ủy ban nhân dân thị xã Q cấp ngày 23/01/2019 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T phải chịu 8.800.000đ (Tám triệu tám trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tài chỗ và định giá tài sản đã nộp đủ. Số tiền còn lại 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đã trả lại cho ông Vũ Văn Đ.
  3. Về án phí:
    Ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    Ông Vũ Mạnh P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí Vũ Văn Đ đã nộp thay theo Biên lai thu tiền số 0003853 ngày 27/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tạ Duy Ước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giải quyết hậu quả của huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 54/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giải quyết hậu quả của huỷ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bố mẹ tặng cho con quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, nhưng sau đó yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger