|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 17 -6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Bằng
Bà Đỗ Thị Kim Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỳ Dương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T, sinh ngày 23 tháng 01 năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: Thôn B, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B, sinh năm 1967 và con bà Dương Thị N, sinh năm 1966; vợ là Trần Thị Thu P, sinh năm 2001; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2017/HSST ngày 24/4/2017, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo T 02 năm 03 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” (Bị cáo chấp hành xong ngày 14/8/2018).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến 01/02/2024. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt).
2. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18 tháng 7 năm 1996; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện tại: T7, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976 và con bà Trương Thị B1, sinh năm 1977; vợ là Trịnh Thị H, sinh năm 1997; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến 01/02/2024. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Đức A, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V tiến hành kiểm tra, phát hiện Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 có hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại quán C 93 của Lê Văn T ở thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể Nguyễn Văn T1 đang có hành vi nhận của anh Lưu Đức A tổng số tiền 34.400.000đ, trong đó có 20.000.000đ tiền gốc mà anh Đức A vay của T, T1 ngày 29/07/2023 và 14.400.000đ tiền lãi của khoản vay trong tháng 10, 11, 12/2023 và tháng 01/2024.
Vật chứng thu giữ: Tiền ngân hàng N1: 34.400.000 đồng thu trên tay của Nguyễn Văn T1; 01 giấy vay tiền đề ngày 29/07/2023 mang tên người vay: Lưu Đức A thu trên tay của Lưu Đức A; 01 căn cước công dân cấp ngày 18/05/2020 của Lưu Đức A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, đã qua sử dụng của Lê Văn T.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T thu giữ: Tiền ngân hàng N1: 2.850.000 đồng thu trong két sắt để tại quán B4; 05 tờ giấy cho vay tiền thu tại phòng ngủ của Lê Văn T gồm: 01 tờ giấy cho vay tiền đề ngày 04/12/2023, bên vay tiền là Nguyễn Văn T3; 02 giấy cho vay tiền đề ngày 26/11/2023 và 09/12/2023, bên vay tiền là Phạm Văn B2, sinh năm 1997, trú tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; 01 giấy vay tiền đề ngày 30/12/2023, bên vay là Nguyễn Khắc T4, sinh năm 1993, trú tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và 01 giấy vay tiền đề ngày 18/12/2023, bên vay là Dương Văn H1, sinh năm 1993, trú tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Tất cả các giấy vay tiền trên đều để trống bên cho vay; 01 quyển sổ bìa màu đen ghi chép khoản vay 20.000.000 đồng ngày 29/7/2023 của anh Lưu Đức A với lãi suất 6.000đ/1 triệu/1 ngày, thu tại phòng ngủ của Lê Văn T.
Kết quả điều tra xác định: Từ đầu năm 2023 Lê Văn T mở quán C 93 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để kinh doanh bàn B3 - a đồng thời ăn, ngủ tại quán và cho vay lãi khi khách có nhu cầu. Tại đây, T thuê Nguyễn Văn T1 tham gia vào việc cho vay lãi với nhiệm vụ trực tiếp làm việc với khách hàng và đôn đốc thu tiền lãi của khách hàng cho T. Ngoài ra T còn thuê thêm Hoàng Cao T5, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã T, huyện X, tỉnh Hà Giang và Chân Seo Đ, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã T, huyện X, tỉnh Hà Giang trông coi, quản lý quán, cho khách đánh bi - a, bán nước uống cho khách và dọn dẹp, nấu ăn tại quán. Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên anh Lưu Đức A đến quán vay của T, T1 02 lần tiền, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 01/02/2023, anh Đức A vay T số tiền 20.000.000đ, T đồng ý cho vay với lãi suất 5.000đ/ 01 triệu/ 01 ngày (180%/năm) và yêu cầu anh Đức A viết giấy vay, để lại 01 căn cước công dân của anh Đức A cho T1 giữ để làm tin, thời hạn trả tiền lãi là 20 ngày một lần. Sau đó T sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] của T mở tại Ngân hàng V chuyển 20.000.000đ vào tài khoản số 0556945746666 mở tại Ngân hàng M của anh Đức A để cho anh Đức A vay đồng thời Thơm giao cho T1 nhắc, thu lãi. 20 ngày sau, T1 đòi tiền lãi nhưng do không có tiền nên anh Đức A xin khất và bảo sẽ đóng lãi 30 ngày, T1 đồng ý, đến ngày 23/02/2023, anh Đức A đã sử dụng tài khoản Ngân hàng MB nêu trên của anh Đức A chuyển khoản 3.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng V số [...] của T1 để thanh toán trả tiền lãi của khoản vay trong 30 ngày (từ ngày 01/02/2023 đến ngày 01/03/2023). Tiếp đến ngày 23/3/2023, T1 tiếp tục đòi tiền lãi nên anh Đức A đã sử dụng tài khoản Ngân hàng MB nêu trên của anh Đức A chuyển 3.000.000 đồng tiền lãi của tháng 3/2023 vào tài khoản ngân hàng V nêu trên của T1. Tiền lãi của khoản vay trên trong tháng 04 và tháng 05/2023 mỗi tháng 3.000.000 đồng (tổng là 6.000.000đ) thì anh Đức A mang tiền mặt đến quán trả cho T1 và T. Đến ngày 23/6/2023 anh Đức A tiếp tục sử dụng tài khoản Ngân hàng MB nêu trên của anh Đức A thanh toán chuyển khoản 3.000.000 đồng tiền lãi của tháng 6/2023 vào tài khoản Ngân hàng V nêu trên của T1. Ngày 18/7/2023 chưa đến ngày thanh toán tiền lãi tháng 7/2023 nhưng vì anh Đức A trả trước tiền gốc nên T1 vẫn tính tiền lãi của khoản vay là hết 01 tháng nên anh Đức A đã chuyển khoản trả cả tiền gốc, tiền lãi của khoản vay cho T1 là 23.000.000 đồng (trong đó có 20.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền lãi). Tổng số tiền lãi của khoản vay mà T, T1 đã thu của anh Đức A là 18.000.000 đồng (173 ngày từ ngày 01/02/2023 đến ngày 23/7/2023), trong đó tiền lãi hợp pháp (20%/ năm) là 1.900.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 16.100.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 29/7/2023, anh Đức A tiếp tục vay của T số tiền là 20.000.000 đồng, khi vay thì T1, T yêu cầu anh Đức A viết 01 giấy vay tiền, để lại 01 căn cước công dân của anh Đức A để làm tin cho khoản vay. T1, T tính lãi suất của khoản vay là 6.000 đồng/ 01 triệu/ 01 ngày (216%/năm) và yêu câu đóng tiền lãi theo từng tháng, anh Đức A đồng ý. Sau đó, T đã chuyển khoản 20.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng 661636248888 của T mở tại ngân hàng V đến tài khoản số 0556945746666 của anh Đức A, mở tại Ngân hàng M để cho Đức A vay. Sau khi vay, anh Đức A đã nhiều lần sử dụng tài khoản Ngân hàng số 0556945746666 chuyển khoản đến tài khoản số [...] của T1 để thanh toán tiền lãi các tháng như sau: Ngày 30/8/2023 chuyển khoản 3.600.000 đồng thanh toán tiền lãi tháng 8/2023; Ngày 02/10/2023 chuyển khoản 2.500.000 đồng và ngày 04/10/2023 chuyển khoản 1.100.000 đồng để thanh toán trả tiền lãi trong tháng 9/2023; Đến chiều ngày 26/01/2024, anh Đức A và Lưu Quang H2 (anh trai ruột anh Đức A) đến quán của T để trả 20.000.000đ tiền gốc và 04 tháng tiền lãi mà anh Đức A còn nợ T, T1 với tổng số tiền là 34.400.000 đồng (trong đó có 20.000.000đ tiền gốc và 14.400.000 đồng tiền lãi của tháng 10, 11, 12 năm 2023 và tháng 01 năm 2024). Khi đến quán thì anh Đức A, anh H2 gặp T1, T ngoài ra còn có anh Hoàng Cao T5, Chẩn Seo Đ1 cũng đang có mặt trông coi bàn bi a tại quán. Tại đây anh Đức A đưa cho T1 34.400.000 đồng, T1 cầm tiền và trả lại giấy vay tiền, căn cước công dân cho anh Đức A thì bị cơ quan công an phát hiện. Tổng số tiền lãi của khoản vay mà
T, T1 đã thu của anh Đức A là 21.600.000 đồng (180 ngày từ ngày 29/7/2023 đến ngày 29/1/2024) trong đó tiền lãi hợp pháp (20%/ năm) là 2.000.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 19.600.000 đồng.
Tổng cộng số tiền lãi T1, T đã thu của anh Đức A từ 02 khoản vay trên là 39.600.000đ, trong đó tổng số tiền lãi hợp pháp (20%/ năm) là 3.900.000đ, tiền lãi bất hợp pháp là 35.700.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra T, T1 còn khai nhận ngoài việc cho anh Đức A vay tiền như trên các bị cáo còn cho 04 người khác vay tiền nhưng đều không tính lãi gồm:
- - Ngày 30/12/2023 cho anh Nguyễn Khắc T6, sinh năm 1993 trú tại tổ dân phố M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc vay 20.000.000 đồng, đến ngày 20/01/2024 T6 đã trả số tiền trên cho T, T1 và không tính lãi.
- - Ngày 04/12/2023 cho anh Nguyễn Văn T3 không rõ năm sinh, địa chỉ cụ thể vay 20.000.000 đồng vài ngày sau T3 đã trả lại số tiền trên cho T, T1. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V không có căn cứ để xác minh, do không xác định được con người cụ thể.
- - Ngày 26/11/2023 và 09/12/2023 cho anh Phạm Văn B2, sinh năm: 1997 trú tại xã T, huyện B vay 02 lần tiền, mỗi lần 5.000.000 đồng và B2 đều đã trả lại số tiền gốc cho T, T1.
- - Ngày 18/12/2023 cho anh Dương Văn H1, sinh năm: 1993 trú tại thị trấn B, huyện B vay 30.000.000 đồng vài ngày sau H1 đã trả lại số tiền trên cho T, T1.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh để làm việc với Phạm Văn B2, Nguyễn Văn H3, nhưng cả B2 và H3 đều vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được đang ở đâu, làm gì nên không có căn cứ xác định các khoản vay này là cho vay lãi nặng.
Kết quả điều tra xác định: Tổng số tiền gốc, tiền lãi phát sinh từ việc T, T1 cho anh Đức A vay là 79.600.000 đồng (trong đó có 40.000.000 đồng tiền gốc và 39.600.000 đồng tiền lãi). Ngày 26/01/2024 khi phát hiện sự việc Cơ quan điều tra đã thu giữ 34.400.000 đồng và tạm giữ 2.850.000 đồng trong két sắt của T. Ngày 25/03/2024 T đã tự nguyện giao nộp số tiền 42.350.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T, Nguyễn Văn T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm như nêu trên.
Ngày 26/03/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đức A 35.700.000 đồng là tiền lãi bất hợp pháp mà T, T1 đã thu của Đức A. Tạm giữ số tiền còn lại 43.900.000 đồng (gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi).
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 về tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo T và T1 khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội
của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt thấp nhất.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 70.000.000đ đến 80.000.000đ;bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 60.000.000đ đến 70.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Trả lại cho anh Đức A 01 căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/05/2020 mang tên Lưu Đức A.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 43.900.000 đồng của Lê Văn T liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, đã qua sử dụng của Lê Văn T.
- - Tạm giữ các giấy vay tiền bên vay là Nguyễn Văn T3, Phạm Văn B2 và Dương Văn H1 (bản chính) để tiếp tục điều tra.
Ngoài ra, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, Lê Văn T và
Nguyễn Văn T1 đã cho anh Lưu Đức A vay 02 lần tiền với tổng số tiền gốc là 40.000.000 đồng với mức lãi suất từ 180%/năm đến 216%/năm thu tổng số tiền lãi là 39.600.000đ, trong đó số tiền lãi hợp pháp (20%/ năm) là 3.900.000đ, thu lời bất chính 35.700.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 201 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Văn T1 có nhân thân tốt; bị cáo Lê Văn T là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo T1 còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại đồng phạm giản đơn không có tổ chức, trong đó Lê Văn T tham gia với vai trò là người chủ mưu, khởi xướng và dùng tiền của mình làm phương tiện phạm tội cho vay lãi nặng, trực tiếp thực hiện tội phạm; Nguyễn Văn T1 tham gia với vai trò giúp sức tích cực, trực tiếp làm việc với khách hàng và đôn đốc thu tiền lãi của khách hàng cho T.
Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nhằm mục đích thu lời bất chính. Do đó, cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền liên quan đến việc phạm tội và các tài sản có giá trị sử dụng dùng làm phương tiện phạm tội; trả lại các bị cáo và người liên quan các tài sản, đồ vật không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với 01 quyển sổ bìa màu đen bên trong có 01 tờ giấy có chữ và số, là vật chứng của vụ án chuyển theo hồ sơ để phục vụ xét xử.
Đối với các giấy vay tiền bên vay là Nguyễn Văn T3, Phạm Văn B2 và Dương Văn H1 thu giữ khi khám xét khẩn cấp do cơ quan điều tra chưa làm việc được với người vay tiền, chưa xác định được đây có phải các khoản cho vay lãi nặng không nên cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ (bản chính) để điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
[7] Các biện pháp tư pháp khác:
Ngày 26/03/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Đức A 35.700.000 đồng là tiền lãi bất hợp pháp mà T, T1 đã thu của anh Lưu Đức A. Xác nhận bị cáo T đã trả toàn bộ số tiền trên cho anh Đức A.
Đối với số tiền 43.900.000 đồng (gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi) liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận bị cáo T đã tự nguyện nộp toàn bộ.
[8] Đối với Nguyễn Khắc T6, Nguyễn Văn T3, Phạm Văn B2, Dương Văn H1 quá trình điều tra bị cáo khai nhận có cho những người này vay tiền nhưng đều không tính lãi. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh để làm việc với Phạm Văn B2, Nguyễn Văn H3 nhưng cả B2 và H3 đều vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được đang ở đâu, làm gì nên không có căn cứ xác định các khoản vay này là cho vay lãi nặng là phù hợp.
[9] Đối với Hoàng Cao T5 và Chân Seo Đường được T thuê để trông coi, dọn dẹp quán, kết quả điều tra cho thấy những người này không biết, không liên quan và không được hưởng lợi gì từ việc T1 và T cho vay lãi nặng do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 và điểm a, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng chẵn)
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng chẵn).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lưu Đức A 01 căn cước công dân số [...] cấp ngày 18/05/2020 mang tên Lưu Đức A là đúng quy định.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, đã qua sử dụng của Lê Văn T.
- - Tạm giữ các giấy vay tiền bên vay là Nguyễn Văn T3, Phạm Văn B2 và Dương Văn H1 (bản chính) để tiếp tục điều tra.
- (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 14/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
- Về các biện pháp tư pháp khác:
- - Tịch thu số tiền 43.900.000đ (gồm 40.000.000 đồng tiền gốc và 3.900.000 đồng tiền lãi) của bị cáo Lê Văn T để sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 43.900.000₫ đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 14/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
- - Xác nhận bị cáo T đã trả cho anh Lưu Đức A số tiền 35.700.000 đồng là tiền lãi bất hợp pháp.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Thị Thúy Mai |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
