TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HSST Ngày: 08/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
- Ông Phan Công Ny
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ An Trinh, cán bộ Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 20/3/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số211/2024/QĐXXST-HS, ngày 23/4/2024 đối với:
Bị cáo Trần Ngọc D, Sinh ngày 21/9/1999
Nơi cư trú: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn N (chết) và bà Đặng Kim T (sn 1960); bị cáo không có anh chị em ruột; bị cáo chưa vợ con;
Tiền án; Tiền sự: không;
Về nhân thân:
- - Ngày 27/12/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về hành vi Cướp Giật tài sản, theo bản án số 56/2023/HSST, ngày 27/12/2023;
- - Ngày 22/3/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về hành vi Cướp Giật tài sản, theo bản án số 28/2023/HSST, ngày 22/3/2024, tổng hợp với bản án 56/2023/HSST, ngày 27/12/2023, bị cáo phải chấp hành là 05 năm tù giam;
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong một vụ án khác từ ngày 27/10/2023; bị cáo có mặt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo D: Ông Phạm Hữu H, Công ty L, Đoàn Luật sư Tỉnh B. Có mặt.
- 1 -
Người bị hại: Ông Lê Văn N1
Địa chỉ: Số A N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (anh N1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Hồng T1
Địa chỉ: A Ấp M, xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra xác định được như sau: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 23/02/2023, Trần Ngọc D điều khiển xe mô tô Winner màu đen, xe mang biển số 60B6 - 601.01 đi từ nhà trọ T2, địa chỉ ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang đến quận N tìm các cửa hàng kinh doanh vàng vắng người, nhằm lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày D phát hiện tiệm V, địa chỉ A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ, trong tiệm chỉ có anh Lê Văn N1 là chủ tiệm, nên D dừng xe lại đậu trước cửa và đi bộ vào trong tiệm. Khi D đi vào trong tiệm vàng thì anh N1 quay ra tiếp chuyện, D nói “muốn mua một cái nhẫn vàng” anh N1 chỉ tay vào trong phía tủ kính nơi có trưng bày các nhẫn vàng để D xem. Anh N1 lấy 01 chiếc nhẫn vàng, mặt vuông, xung quanh có cần đá màu trắng, anh N1 để trên mặt kính quầy chọ D xem, D lấy nhẫn đeo vào ngón áp út tay trái nhưng nhẫn rộng quá không vừa nên không đồng ý mua và tháo ra để nhẫn trên mặt kính của quầy, rồi kêu anh N1 lấy thêm chiếc nhẫn khác để thử. Anh N1 lấy chiếc nhẫn thứ hai trong tù ra cho D xem và thử, D đeo nhẫn vào ngón áp út tay trái nhưng rộng quá nên D tháo ra để nhẫn lại trên mặt kính quầy, D lấy chiếc nhẫn đầu tiên đang để trên mặt kính quầy đeo nhẫn vào ngón giữa bàn tay trái thì vừa vặn. Lúc này, có một người phụ nữ đi đến tiệm V để giao dịch, anh N1 tiếp chuyện người phụ nữ, khi người phụ nữ đi bộ ra về thì D kêu anh N1 cân chiếc nhẫn còn nằm trên mặt kính của quầy, chiếc nhẫn thứ nhất D đã đeo sẵn trong tay, lợi dụng lúc anh N1 quay mặt vào trong để cân nhẫn và tính tiền D chạy bộ ra trước tiệm vàng lên xe đề máy chạy để tẩu thoát, anh N1 chạy bộ đuổi theo dùng tay nắm cổ áo D lại nhưng không được.
Đến ngày 10/11/2023 Công an quận N nhận được công văn số 422/CV-CSHS ngày 08/11/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C về việc phối hợp điều tra giải quyết vụ án do Trần Ngọc D khai nhận đã chiếm đoạt 01 chiếc nhẫn bằng vàng tại tiệm V, số A N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ vào ngày 23/02/2023.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 2372/KL-HĐĐG quận N, ngày 30/11/2023 xác định: 01 (một) nhẫn vàng loại nhẫn tròn, mặt vuông, xung quanh nhẫn có cần đá màu trắng. Vàng 17K-Kim loại vàng, với chất lượng (tuổi vàng) 70,8%. Số lượng 3,112 chỉ với đơn giá 3.827.000đ/chỉ. Tổng số tiền là 11.910.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Trần Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, vào ngày 23 tháng 02 năm 2023 đã lừa đảo anh N1 chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc nhẫn bằng vàng có đặc điểm nêu trên tại tiệm V, số A N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. D điều khiển xe mô tô chạy đến tiệm V1 thuộc phường C, quận N, thành phố Cần Thơ bán tài sản được số tiền 12.000.000 đồng. D đưa cho chị Phạm Hồng T1, sinh năm 2003, đăng ký thường trú: ấp M, xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (là bạn gái của D) số tiền 5.000.000 đồng để sinh hoạt chung, số tiền 7.000.000 đồng còn lại D tiêu xài cá nhân hết.
- 2 -
Đối với Phạm Hồng T1 không biết số tiền 5.000.000 đồng Trần Ngọc D đưa cho là do D lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N không xử lý đối với T1.
Đối với Đặng Văn N2, chủ doanh nghiệp tư nhân tiệm V1 không xác định được Trần Ngọc D đến tiệm V1 để bán 01 nhẫn vàng có đặc điểm nêu trên nên không có cơ sở xử lý.
Đối với 05 hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ án tại tiệm V, đã lưu hồ sơ vụ án. Riêng xe mô tô Winner màu đen, xe mang biển số 60B6 - 601.01 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã xử lý trong vụ án khác. Về trách nhiệm dân sự: anh Lê Văn N1 yêu cầu Trần Ngọc D bồi thường số tiền 11.910.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKSNK ngày 06/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh và điều luật đối với bị cáo.
Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Căn cứ vào lời trình bày của bị cáo, ý kiến của bị hại theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và các chứng cứ có tại hồ sơ, Kiểm sát viên đề nghị:
Đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự. Điều 584, 585 và 586, 590 Bộ luật Dân sự;
Đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của bị hại giá trị tài sản bị mất không thu hồi được là 11.910.000 đồng;
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Luật sư thống nhất tội danh và điều luật chính áp dụng đối với bị cáo. Luật sư đề nghị xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm i, s khoảng 1 và khoản 2 Điều 51, vì quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Gia đình bị cáo hiện đang rất khó khăn, cha bị cáo là thương binh, đã chết, mẹ bị cáo là giáo viên đã về hưu có nhiều đóng góp cho xã hội. Về trách nhiệm dân sự, mẹ bị cáo và bị cáo cũng có ý khắc phục hậu quả cho bị hại; để tuyên phạt bị cáo mức hình phạt thấp, để bị cáo sớm về với gia đình.
Người bị hại có yêu cầu giải quyết vắng mặt, tòa án nghi nhận ý kiến theo đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt có tại hồ sơ.
- 3 -
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận biết rõ hành do mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vì không có việc làm ổn định, muốn có tiền tiêu xài nên cố tình phạm tội. Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như mô tả tại kết luận điều tra và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận N.
Cụ thể bị cáo nghĩ ra cách lợi dụng lòng tin của những người bán hàng, loại hàng có giá trị lớn để chiếm đoạt tài sản. Do đã chuẩn bị từ turớc, ngày 23/02/2023 D điều khiển xe mô tô 60B6 - 601.01 đến tiệm V địa chỉ A, đường N, phường T, quận N do anh Lê Văn N1 làm chủ. D dùng thủ đoạn gian dối, giả vờ hỏi mua hàng, để anh N1 giao tài sản là chiếc nhẫn vàng cho Dương thử, đeo vào tay, sau đó rồi lợi dụng lúc anh N1 không để ý bị cáo chiếm đoạt chiếc nhẫn có giá trị 11.910.000 đồng. Hành vi mà bị cáo D thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào trình bày của bị cáo, người bị hại và chứng cứ có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, giá trị tài sản chiếm đoạt xác định được là 11.910.000 đồng; đã thỏa mãn đầy đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đả chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự, đúng như truy tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3]. Xét tính chất vụ án, là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện tội phạm táo bạo, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, vì vậy hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để phòng ngừa chung.
[4]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cha bị cáo là thương binh, mẹ là giáo viên, có nhiều đóng góp cho xã hội. Bị cáo cũng thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng, mặc dù hồ sơ vụ án ghi nhận bị cáo chưa tiền án tiền sự, tuy nhiên, vào các ngày 27/12/2023, và ngày 22/3/2024 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xử phạt 03 năm 06 tháng tù và bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù cùng về cùng hành vi Cướp Giật tài sản; những lần xét xử này chưa tính là tiền án đối với bị cáo nhưng cũng không thể xem xét áp dụng tình tiết lần đầu phạm tội đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 11.910.000 đồng, bị cáo đồng ý, Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 4 -
[6] Về vật chứng: Chiếc xe Môtô Winner màu đen, biển số 60B6-601.01 đã được xử lý trong vụ án khác nên trong vụ án này hội đồng xét xử không xem xét.
Lưu hồ sơ vụ án đối với 05 hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ án tại tiệm V.
[7] Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N không xử lý đối chị Phạm Hồng T1 do chị T1 không biết số tiền 5.000.000 đồng Trần Ngọc D đưa cho là do D lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có.
Đối với Đặng Văn N2, là chủ doanh nghiệp tư nhân tiệm V1, do không biết được Trần Ngọc D có đến tiệm V1 để bán 01 nhẫn vàng có đặc điểm nêu trên hay không nên không có cơ sở xử lý.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; bị cáo và bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 174, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 và Điều 48 Bộ luật Hình sự;
Điều 106 Bộ luật Tố Tụng Hình sự;
Các Điều Điều 584, 585 và 586, 590 Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử phạt:
Bị cáo Trần Ngọc D 01 (một) năm tù giam.
Tổng hợp với hình phạt 05 năm tù của Bản án số 28/2024/HSST, ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn thành phố Cần Thơ. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023;
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn N1 giá trị tài sản bị mất, không thu hồi được là 11.910.000 đồng.
Bị cáo phải chịu: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 595.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Linh |
- 5 -
- Lưu hồ sơ; Nguyễn Thị Thùy Linh
- 6 -
Bản án số 54/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 54/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Dương
