|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 26/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Ngô Minh Hoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 04/7/2000 tại huyện T, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963, trú tại thôn A, xã A, huyện T; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 89/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2019, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 06/12/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Được dẫn giải có mặt.
Đồng Như T, sinh ngày 18/10/1993 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Như H2, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1960, đều trú tại thôn T, xã T, huyện T, Thái Bình; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Được dẫn giải có mặt.
* Người làm chứng:
Anh Vũ Đình T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. ( Vắng mặt)
* Người chứng kiến:
Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1972 và ông Phạm Đức C1, sinh năm 1976; cùng nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình ( Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 44 phút ngày 20/12/2023, Đ T nhắn tin M từ tài khoản “Anh T2” của T đến tài khoản “Nguyễn Văn H” của Nguyễn Văn H nội dung “xin khói nào”, ý T hỏi xem H có ma túy đá không cho T sử dụng cùng, H trả lời “Tý có gì em A”. Sau khi nhắn tin trao đổi với T, do có sẵn 200.000 đồng nên H nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng, H tiếp tục nhắn tin cho Vũ Đình T1 có tài khoản “Thắng N” của T1 nội dung: “Anh ngủ chưa”, T1 trả lời: “Anh đang trên Hoàng G ngồi với mấy anh em”, H nhắn: “Em đang xin chắc được 200 thôi, có gì em alo”, ý của H có 200.000 đồng định mua ma túy rủ T1 cùng sử dụng và có gì thì H sẽ báo cho T1. T1 đồng ý và nhắn lại: “Ok em, tý anh điện”. Hồi 14 giờ cùng ngày, H nhắn tin M cho T nội dung: “Vào đón em”, ý của H bảo T đến nhà H để chở H đi mua ma túy đá. T đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, biển kiểm soát 17M6-1551 đến nhà H, trên đường đến nhà H, T vào nghĩa trang nhân dân xã A, huyện T gần nhà H lấy 01 nắp chai nhựa màu vàng có đục 02 lỗ tròn, 01 cóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa do T để ở đó từ trước và cất vào túi áo khoác bên phải T đang mặc rồi tiếp tục đi đến nhà H tại thôn A, xã A, huyện T. Đến nơi, H bảo T chở H sang huyện V, thành phố Hải Phòng để mua ma túy, T đồng ý và điều khiển xe chở H đi. Trên đường đi mua ma túy, H gọi điện thoại qua M cho T1 nhưng T1 không nghe máy, sau đó T1 nhắn tin M trả lời là: “Anh chưa về được”, H nhắn: “Em giờ đang lấy 200, anh về đi”, ý của H là H đang đi mua 200.000 đồng ma túy đá và bảo T1 đến. Khi đi qua cầu phao dân sinh thuộc xã H, huyện T sang địa phận huyện V, thành phố Hải Phòng, T dừng xe, H đưa cho T 200.000 đồng để T đi tìm mua ma túy. T nhận tiền H đưa và bảo H đứng đợi rồi đi bộ một đoạn tìm thì gặp và mua được 01 túi ma túy đá với giá 200.000 đồng của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, T không biết tên, địa chỉ của người này. Sau khi mua được ma túy T bỏ vào túi áo khoác bên trái rồi quay lại chỗ H đứng đợi, T điều khiển xe chở H về. Lúc này điện thoại của H bị hỏng không sử dụng được nên H nhờ T gọi cho T1 bảo T1 đến nhà H để sử dụng ma túy. Đến 14 giờ 58 phút cùng ngày, khi đang dừng xe chờ qua cầu phao dân sinh thuộc địa phận huyện V, thành phố Hải Phòng, T nhắn tin Messenger từ tài khoản “Anh T2” của T đến tài khoản “Thắng N” của Vũ Đình T1 nội dung: “lô”, nhưng T1 không nhắn tin lại, đến 15 giờ 01 phút cùng ngày, T1 gọi lại cho T, T rủ T1 đến nhà H để sử dụng ma túy. Trên đường về T bảo H: “Xem túi ma túy còn trong túi trái tao không hay rơi rồi”. H cho tay vào túi áo khoác bên trái của T thấy 01 túi ma túy đá nên H cầm ở tay. Khi về tới nhà H, T vào phòng khách ngồi xuống
chiếu, H lấy 01 vỏ chai “Trà Xanh Vị Chanh Không Độ” đổ nước vào trong chai sau đó mang vào trong phòng khách đưa cho T để T làm dụng cụ sử dụng ma túy đá. H để túi ma túy đá xuống mặt chiếu. T lấy từ trong túi áo khoác bên phải của T 01 nắp chai nhựa màu vàng đã đục 02 lỗ tròn, 01 cóng thủy tinh và 01 đoạn ống hút bằng nhựa ra lắp chiếc cóng thủy tinh và ống hút bằng nhựa vào 02 lỗ tròn trên nắp chai nhựa, rồi lắp chiếc nắp đó vào vỏ chai “Trà Xanh Vị Chanh Không Độ” mà H vừa đưa thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế. Sau đó T lấy túi ma túy đá do H để trên mặt chiếu đổ hết ma túy vào cóng thủy tinh, còn vỏ túi nilon T để xuống mặt chiếu. H lấy từ bao thuốc lá 01 mảnh giấy tráng kim loại màu trắng cuốn thành ống (đầu tiêm) sau đó cắm vào đầu ra ga của 01 chiếc bật lửa ga trong suốt và lấy thêm 01 bật lửa ga màu đỏ mồi cho chiếc bật lửa có gắn đầu tiêm rồi dùng bật lửa này đốt cóng thủy tinh của bộ D1 sử dụng ma túy để nấu ma túy đá trong cóng. Nấu ma túy xong, H tiếp tục dùng bật lửa đốt cóng thủy tinh để H sử dụng, rồi H đốt cho T sử dụng ma túy. T sử dụng ma túy xong thì T1 đến nhà H vào trong phòng khách ngồi xuống chiếu cùng H và T. H tiếp tục dùng bật lửa đốt cóng thủy tinh cho T1, T và H sử dụng hết số ma túy đá trong cóng rồi cả nhóm ngồi nói chuyện. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã A, huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện tại phòng khách nhà ở của Nguyễn Văn H có 03 đối tượng gồm Nguyễn Văn H, Đ T và Vũ Đình T1 đang ngồi trên mặt chiếu trải trên nền nhà. Tổ công tác mời 02 người chứng kiến là ông Phạm Đức C1 và bà Vũ Thị H3 cùng trú tại thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình đến để chứng kiến sự việc. Tiến hành kiểm tra quản lý 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa trong suốt có nhãn hiệu “Trà Xanh Vị Chanh Không Độ” bên trong có nước và nắp chai màu vàng, trên mặt nắp có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng, một lỗ gắn 01 ống thủy tinh trong suốt hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn, bên ngoài có ám muội màu đen, bên trong có chất bám dính màu trong suốt; 01 túi nilon trong suốt một mép có gờ cài; 02 bật lửa ga bằng nhựa trong đó 01 chiếc có vỏ màu đỏ, 01 chiếc có vỏ trong suốt đầu ra ga có gắn 01 ống được cuộn bằng giấy tráng kim loại màu trắng. H, T và T1 khai nhận đó là các dụng cụ mà 03 người vừa dùng để sử dụng ma túy đá. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và quản lý, niêm phong toàn bộ vật chứng liên quan.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H và chỗ ở của Đ T không phát hiện, quản lý đồ vật, tài liệu gì.
- Bản Kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 24/04/2023 của Phòng Kỹ thuật - Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Văn H, Đồng Như T, Vũ Đình T1: “Dương tính với chất ma túy trong cơ thể”.
- Phiếu trả kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện tâm thần Sở y tế tỉnh T đối với Nguyễn Văn H, Đồng Như T, Vũ Đình T1 kết quả: “Không nghiện chất ma túy (đá)”.
- Kết luận giám định số 1853/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất màu trong suốt bám dính trong đoạn ống thủy tinh hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn, bên ngoài ám muội màu đen gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng. Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- Bản kết luận giám định số 1854/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong các mẫu nước tiểu (Mẫu số M1, Mẫu số M2, Mẫu số M3) gửi giám định đều chứa sản phẩm chuyển hóa của ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKSTT ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù và xử phạt Đ T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 ống thủy tinh hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn, bên ngoài ám muội màu đen thu giữ tại chiếu trong phòng khách nhà ở của Nguyễn Văn H được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1853/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa trong suốt có nhãn hiệu “Trà Xanh Vị Chanh Không Độ” bên trong có nước và nắp chai màu vàng, trên mặt nắp có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng; 01 túi nilon trong suốt một mép có gờ cài; 02 bật lửa ga bằng nhựa trong đó 01 chiếc có vỏ màu đỏ, 01 chiếc có vỏ trong suốt đầu ra ga có gắn 01 ống được cuộn bằng giấy tráng kim loại màu trắng; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng vàng đã qua sử dụng, mặt trước bị nứt vỡ quản lý của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen đã qua sử dụng, mặt trước bị nứt vỡ quản lý của Đ T.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T nói lời sau cùng: Nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 20/12/2023, tại phòng khách nhà Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H và Đ T có hành vi tổ chức cho bản thân và cho Vũ Đình T1 sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó: H là người bỏ tiền, rủ T đi mua ma túy, sử dụng nhà ở của mình làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy; T là người trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy và cùng với H rủ T1 đến để sử dụng trái phép chất ma túy, do đó H giữ vai trò chính, T giúp sức với vai trò đồng phạm.
[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể mình và cơ thể người khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người và xã hội. Các bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Các bị cáo biết hành vi của mình đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[4] Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
b) Đối với 02 người trở lên;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thấy rằng: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, H là người bỏ tiền, rủ T đi mua ma túy, sử dụng nhà ở của mình làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy; T là người trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy và cùng với H rủ T1 đến để sử dụng trái phép chất ma túy, do đó H giữ vai trò chính, T giúp sức với vai trò đồng phạm. Về nhân thân, Đ T có nhân thân tốt, Nguyễn Văn H từng bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa án tích. Do đó khi quyết định hình phạt cần xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án cao hơn bị cáo Đồng Như T. Các bị cáo không có công việc ổn định, bản thân không có tài sản riêng nào có giá trị lớn, thu nhập chỉ đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Bên cạnh đó, động cơ phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là để thỏa mãn cảm xúc cá nhân, không có động cơ vì lợi nhuận nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với công cụ phương tiện dùng vào việc sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại các bị cáo dùng để rủ nhau sử dụng ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu đỏ đã qua sử dụng quản lý của Vũ Đình T1; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, vỏ màu xanh đen, biển kiểm soát 17B6-463.32 quản lý của T1 xác định là của ông Vũ Đình T3, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ T1). Ngày 20/12/2023 T1 tự lấy chiếc xe trên để đến nhà H sử dụng ma túy; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, vỏ màu xanh, biển kiểm soát 17M6-1551 do T sử dụng để chở H đi mua ma túy xác định chủ sở hữu là ông Đồng Như D, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (là anh trai T), khi T lấy xe đi ông D không biết. Ngày 06/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trả lại toàn bộ số tài sản trên cho anh T1, ông T3, ông D.
[8] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với Vũ Đình T1 đến nhà Nguyễn Văn H ngày 20/12/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định. Bị cáo Đồng Như T khai mua ma túy của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, T không biết tên, địa chỉ ở khu vực huyện V, thành phố Hải Phòng, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người bán nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đồng Như T 07 (bảy) năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 ống thủy tinh hình gấp khúc một đầu hình cầu có lỗ tròn, bên ngoài ám muội màu đen thu giữ tại chiếu trong phòng khách nhà ở của Nguyễn Văn H được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1853/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa trong suốt có nhãn hiệu “Trà Xanh Vị Chanh Không Độ” bên trong có nước và nắp chai màu vàng, trên mặt nắp có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu trắng; 01 túi nilon trong suốt một mép có gờ cài; 02 bật lửa ga bằng nhựa trong đó 01 chiếc có vỏ màu đỏ, 01 chiếc có vỏ trong suốt đầu ra ga có gắn 01 ống được cuộn bằng giấy tráng kim loại màu trắng; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu trắng vàng đã qua sử dụng, mặt trước bị nứt vỡ quản lý của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen đã qua sử dụng, mặt trước bị nứt vỡ quản lý của Đ T.
(Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).
- Về án phí: Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự các bị cáo Nguyễn Văn H và Đ T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/4/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Văn H và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
