Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 8 năm 2023

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 27/8/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Đinh Hữu T - sinh năm 1985, (Có mặt).

Địa chỉ: Số D, đường N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người bị kiện: Chị Nguyễn Huyền T1 – sinh năm 1990, (Có mặt).

HKTT: Số D, đường N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện tại: Số D, đường H, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2023 và ý kiến trình bày của nguyên đơn anh Đinh Hữu T trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Ngày 04/12/2013, anh và chị T1 đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Thời điểm đầu năm 2023 khi chị T1 có ý định bỏ công việc hiện tại, anh đã khuyên giải nhưng không được. Do mâu thuẫn không thể hòa giải được nên anh chị đã ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu được ly hôn chị Nguyễn Huyền T1.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 người con chung là Cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020. Hiện nay, 2 cháu đang ở cùng với chị T1. Hiện nay anh đang làm tại Công ty TNHH C nên sau khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được nuôi cháu Đinh Diệu L. Đối với cháu Đinh Hữu M đã trên 7 tuổi đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của cháu. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn chị Nguyễn Huyền T1 trình bày :

Về quan hệ vợ chồng : Chị T1 đồng ý với quan điểm của anh T về thời gian kết hôn. Chị xác định đầu năm 2023 thì anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay anh T xin ly hôn, chị đồng ý ly hôn.

Về con chung : Vợ chồng anh chị có 02 người con chung là Cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả 2 con chung, chị không yêu cầu cấp dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Tại biên bản xác minh ngày 07/8/2023 đối với bà Lê Thị Phi Y là mẹ đẻ của chị Nguyễn Huyền T1 cung cấp: bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Huyền T1. Năm 2013, cháu Nguyễn Huyền T1 kết hôn với anh Đinh Hữu T. Khi kết hôn hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn cháu T1 về chung sống với anh T. Vào tháng 3 năm 2023 thì chị T1 đưa 2 cháu là cháu M, cháu L chuyển về ở cùng với vợ chồng bà. Mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì bà không rõ. Tuy nhiên, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải cho vợ chồng chị T1 anh T nhưng không được. Nay anh T đề nghị ly hôn tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với con chung bà có đề nghị như sau: Hiện nay, cháu L, cháu M đều ở với vợ chồng bà, anh T và chị T1 đều làm doanh nghiệp thời gian của cả 2 đều đi sớm về muộn nên việc đưa đón các cháu đi học và chăm sóc các cháu đều do vợ chồng bà nên đề nghị Tòa án giao cả 2 người con chung là cháu M và cháu L cho chị T1 để đủ điều kiện chăm sóc các cháu và ổn định việc học của các cháu

Tại phiên tòa hôm nay, anh Đinh Hữu T trình bày : Anh giữ nguyên quan điểm khởi kiện xin ly hôn đối với chị Nguyễn Huyền T1. Hiện nay, anh đang làm ở Công ty TNHH C thu nhập bình quân hàng tháng là hơn 30 triệu/tháng. Trụ sở của công ty tại khu công nghiệp trên địa bàn huyện V, anh đi làm từ 8 giờ sáng đến 17 giờ tan ca. Hiện nay anh đang sinh sống một mình tại số nhà D, đường N, phường X, thành phố B. Nếu trong trường hợp được giao con chung thì anh sẽ nhờ bố xuống để đưa đón con đi học.

Chị Nguyễn Huyền T1 trình bày : Chị đồng ý ly hôn với anh Đinh Hữu T. Hiện nay chị đang làm việc tại công ty C1 (Việt Nam) thu nhập bình quân của chị là hơn 20 triệu/tháng. Trụ sở của công ty tại khu công nghiệp Q, huyện V. Thời gian làm việc của chị cũng từ 8 giờ sáng đến 17 giờ thì tan ca. Hiện nay, việc đưa đón các cháu đi học vẫn được ông bà ngoại giúp đỡ để đưa đón con về.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Đinh Hữu T được ly hôn với chị Nguyễn Huyền T1.
  • + Về con chung: Giao cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020 cho chị T1 nuôi dưỡng, chăm sóc. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Anh Đinh Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là chị Nguyễn Huyền T1 có hộ khẩu thường trú tại phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh T và chị T1 là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn là anh chị tự nguyện kết hôn, có giấy chứng nhận kết hôn năm 2013 tại UBND phường H nên hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Anh T xin ly hôn chị T1, chị T1 đồng ý ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T và chị T1 đến nay đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 người con chung là cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020. Hội đồng xét xử thấy: Về điều kiện kinh tế anh T, chị T1 có điều kiện kinh tế để chăm sóc con như nhau. Cháu Đinh Hữu M sinh ngày 06/01/2015 có nguyện vọng ở với chị T1. Đối với cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020, hiện nay cháu vẫn còn nhỏ, là con gái. Hiện nay, 2 con chung của anh T, chị T1 đều đang sinh sống cùng với mẹ. Việc đưa đón các con chung đi học vẫn được sự giúp đỡ của bố mẹ chị T1 nên cần giao cả 2 cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020 cho chị T1 là người trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đương sự nào yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Anh Đinh Hữu T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Hữu T được ly hôn chị Nguyễn Huyền T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Đinh Hữu M, sinh ngày 06/01/2015 và cháu Đinh Diệu L, sinh ngày 25/02/2020 cho chị Nguyễn Huyền T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  3. Sau khi ly hôn anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

    Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.

  4. Về án phí: Anh Đinh Hữu T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Xác nhận chị đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002306 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

  6. Về quyền kháng cáo: Anh Đinh Hữu T, chị Nguyễn Huyền T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND phường Hoàng Văn Thụ, Tp Bắc Giang;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 27/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 54/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Đinh Hữu Tr ly hôn chị Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger