Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 54/2024/ HS-ST

Ngày 20-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;

2. Ông Đào Ngọc Ứng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST- HS, ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Hoàng D, sinh ngày 11/7/1993 tại Cà Mau; nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn L, sinh năm 1965 và bà Trần Ánh Đ, sinh năm 1967; vợ: Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1999; con: Phạm Hoàng P, sinh năm 2021; tiền sự: Không có; tiền án: Ngày 09/02/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/12/2023; tạm giữ: Ngày 20/5/2024; tạm giam: Từ ngày 23/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thái H, sinh năm 1997 (có mặt);
  2. Võ Thị T, sinh năm 1959 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

3. Lê Hữu L1, sinh năm 2001 (vắng mặt);

4. Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1997 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người chứng kiến: Trần Văn R, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 20/5/2024, Công an phường A phối hợp cùng Đội Cảnh sát giao thông, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố H tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường. Qua tuần tra phát hiện xe ô tô mang biển kiểm soát 66A-183.04 đang lưu thông theo hướng từ xã B về phường A do Nguyễn Thái H điều khiển chở theo Lê Hữu L1, Phạm Hoàng D và Nguyễn Thị Mỹ T1 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bên trong xe phát hiện 01 (một) bịch nylon trong suốt, được quấn một lớp băng keo trong suốt có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý), để trong hộc phía sau thân ghế, vị trí bên phải hàng ghế thứ 2 của xe (nơi Nguyễn Thị Mỹ T1 ngồi); 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, dạng ống hút được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý), phía dưới sàn xe ô tô vị trí bên phải phía sau hàng ghế thứ 2 của xe; 01 (một) bình tự chế, phía trên có nắp mũ nhựa màu đỏ, có gắn 01 đoạn thuỷ tinh và một ống mũ nhựa (dạng ống hút) màu xanh - trắng, dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý, được phát hiện trong một túi vải màu đen, có dây kéo, không rõ nhãn hiệu, treo phía sau vị trí ghế tài xế nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra, Phạm Hoàng D thừa nhận ma túy bị bắt quả tang là của D, mua của một người thanh niên tên L2, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại tỉnh Bình Dương vào ngày 19/5/2024 với giá là 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó thuê phương tiện xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04 (bà Võ Thị T đứng tên giấy đăng ký xe) do Nguyễn Thái H điều khiển chở về thành phố H. Khi lên xe, D cất số ma túy trên ở phía sau lưng băng ghế nơi D ngồi, khi xe đang di chuyển thì D lấy chất ma túy ra để vào nỏ sử dụng một mình, sau đó cất giấu trên xe. Trên đường đi về thành phố H Diễn lần lượt rước Lê Hữu L1, sau đó rước Nguyễn Thị Mỹ T1, khi xe di chuyển đến thành phố H thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

- Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) bịch nylon trong suốt, được quấn một lớp băng keo trong suốt có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý), chưa xác định trọng lượng; 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, dạng ống hút được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý), chưa xác định trọng lượng; 01 (một) vật bằng kim loại và mủ nhựa màu đen, có hình dạng giống khẩu súng ngắn, trên thân có in ký hiệu dòng chữ Korth Germany Waffenfabrik; 01 (một) bình tự chế, phía trên có nắp mủ nhựa màu đỏ, có gắn 01 đoạn thuỷ tinh và một ống mủ nhựa (dạng ống hút) màu xanh - trắng, dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; 01 (một) túi vãi màu đen, có dây kéo, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, có ghi biển đăng ký 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) phong bì màu trắng (bên trong có khẩu súng ngắn “kiểu súng ổ quay” bằng kim loại và nhựa màu đen, trên súng có dòng chữa “Korth Germany Weffenfa”) được niêm phong lại, trên phong bì có đóng hình dấu màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên: Võ Cường N1, Trần Văn T2.

- Kết luận giám định số: 639/KL-KTHS, ngày 22/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt được quấn bên ngoài bằng một lớp băng keo trong suốt và 01 đoạn mủ nhựa trong suốt dạng ống hút hàn kín hai đầu, được niêm phong trong túi niêm phong bằng giấy ký hiệu PS2, mã số PS2A – 062873 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 6,583 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ)".

- Kết luận giám định số: 713/KL-KTHS, ngày 03/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: “Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, tại thời điểm giám định không sử dụng để bắn được nên không đủ cơ sở kết luận khẩu súng này thuộc loại vũ khí nào”.

+ Công văn số: 407/PC09, ngày 15/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, về việc trao đổi thông tin liên quan đến Kết luận giám định. Phòng K1 Công an tỉnh Đ có số ý kiến trao đổi như sau: Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A nguyên là đồ chơi nguy hiểm bị cấm, được gia cố thêm ống kim loại vào nồng súng và ổ quay (ổ chứa đạn, lắp đạn 5,6mm), chế tạo thêm bộ phận kim hỏa. Tuy nhiên tại thời điểm giám định, bộ phận kim hỏa có cấu tạo chưa phù hợp, bắn đạn không nổ, không có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự vũ khí nên không thuộc danh mục vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hay danh mục các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm; hiện nay, việc xác định công cụ, phương tiện cấm lưu hành, sử dụng không thuộc lĩnh vực của Phòng K1.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Võ Thị T: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, có ghi biển đăng ký 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc) vì đây là tài sản hợp pháp của Võ Thị T giao cho Nguyễn Thái H chạy dịch vụ, bà T không biết việc Phạm Hoàng D tàng trữ ma túy trên xe.

Trong quá trình điều tra, Phạm Hoàng D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKSTPHN, ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Phạm Hoàng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Hoàng D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Hoàng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D mức hình phạt từ 06 năm 06 tháng đến 7 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc Phạm Hoàng D khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại tỉnh Bình Dương. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Nguyễn Thái H sử dụng xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04 chở Phạm Hoàng D cùng ma túy bị bắt quả tang. Qua điều tra Nguyễn Thái H không biết, không bàn bạc, trao đổi gì đến việc Phạm Hoàng D mang theo ma túy, do đó không đủ căn cứ xử lý Học với vai trò đồng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cùng Phạm Hoàng D nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với việc Lê Hữu L1, Nguyễn Thị Mỹ T1 đi cùng Phạm Hoàng D trên xe ô tô. Qua điều tra L1 và T1 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì đến việc Phạm Hoàng D mang theo ma túy, do đó không đủ căn cứ xử lý T1 và L1 với vai trò đồng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cùng Phạm Hoàng D nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Võ Thị T 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, có ghi biển đăng ký 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc). Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: mẫu tinh thể rắn trong túi niêm phong còn lại sau giám định có khối lượng 6,292 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 666, ngày 20/5/2024”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K, Nguyễn Văn S và Phạm Hoàng D; 01 (một) bình tự chế, phía trên có nắp mủ nhựa màu đỏ, có gắn 01 đoạn thuỷ tinh và một ống mũ nhựa (dạng ống hút) màu xanh-trắng, dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; 01 (một) túi vãi màu đen, có dây kéo, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) phong bì màu trắng (bên trong có khẩu súng ngắn “kiểu súng ổ quay” bằng kim loại và nhựa màu đen, trên súng có dòng chữa “Korth Germany Weffenfa”) được niêm phong lại, trên phong bì có đóng hình dấu màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Võ Cường N1, Trần Văn T2.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hoàng D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/5/2024 và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hoàng D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng do bị cáo nghiện ma túy và muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi cất giấu bất hợp pháp chất ma túy để nhằm mục đích sử dụng, cụ thể là: Vào khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 20/5/2024, trên xe ô tô biển kiểm soát 66A-183.04 do Diễn thuê đang lưu thông theo hướng từ xã B về phường A, thành phố H, Phạm Hoàng D có hành vi cất giấu bất hợp pháp trong hộc phía sau thân sau thân ghế (vị trí bên phải hàng ghế thứ 2, nơi Nguyễn Thị Mỹ T1 ngồi) 01 (một) bịch nylon trong suốt, được quấn một lớp băng keo trong suốt có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý) và 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, dạng ống hút được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa chất tinh thể rắn (ma tuý) phía dưới sàn xe ô tô vị trí bên phải, phía sau hàng ghế thứ 2 của xe thì bị Công an phường A phối hợp cùng Đội Cảnh sát giao thông, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an thành phố H tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường kiểm tra phát hiện nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Phạm Hoàng D thừa nhận ma túy bị bắt quả tang là của D, mua của một người thanh niên tên L2, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại tỉnh Bình Dương vào ngày 19/5/2024 với giá là 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng.

Căn cứ vào các Bản kết luận giám định:

  • Kết luận giám định số: 639/KL-KTHS, ngày 22/5/2024 của Phòng K1 (KTHS) Công an tỉnh Đ. Kết luận: “Tinh thể rắn chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt được quấn bên ngoài bằng một lớp băng keo trong suốt và 01 đoạn mủ nhựa trong suốt dạng ống hút hàn kín hai đầu, được niêm phong trong túi niêm phong bằng giấy ký hiệu PS2, mã số PS2A – 062873 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 6,583 gam, loại Methamphetamine”.
  • Kết luận giám định số: 713/KL-KTHS, ngày 03/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: “Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, tại thời điểm giám định không sử dụng để bắn được nên không đủ cơ sở kết luận khẩu súng này thuộc loại vũ khí nào”.
  • Căn cứ Công văn số: 407/PC09, ngày 15/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, về việc trao đổi thông tin liên quan đến Kết luận giám định. Phòng K1 Công an tỉnh Đ có số ý kiến trao đổi như sau: Khẩu súng ngắn cần giám định ký hiệu A nguyên là đồ chơi nguy hiểm bị cấm, được gia cố thêm ống kim loại vào nồng súng và ổ quay (ổ chứa đạn, lắp đạn 5,6mm), chế tạo thêm bộ phận kim hỏa. Tuy nhiên tại thời điểm giám định, bộ phận kim hỏa có cấu tạo chưa phù hợp, bắn đạn không nổ, không có khả năng gây sát thương, nguy hai cho tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự vũ khí nên không thuộc danh mục vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ hay danh mục các loại đồ chơi nguy hiểm bị cấm; hiện nay, việc xác định công cụ, phương tiện cấm lưu hành, sử dụng không thuộc lĩnh vực của Phòng K1.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/5/2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh Phạm Hoàng D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 6,583 gam loại Methamphetamine Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Hoàng D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

g/...Methamphetamine...có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam..."

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đáng ra, qua lần bị xét xử trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, ra sức lao động để có cuộc sống lành mạnh, sống hòa nhập với cộng đồng, cùng chung tay xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức xây dựng. Nhưng bị cáo không làm được điều đó mà do nghiện mà túy và để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc hơn mức hình phạt đã xét xử bị cáo trước đây, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Đối với việc Phạm Hoàng D khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể tại tỉnh Bình Dương. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Đối với việc Nguyễn Thái H sử dụng xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04 chở Phạm Hoàng D cùng ma túy bị bắt quả tang. Qua điều tra, Nguyễn Thái H không biết, không bàn bạc, trao đổi gì đến việc Phạm Hoàng D mang theo ma túy, do đó không đủ căn cứ xử lý Học với vai trò đồng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cùng Phạm Hoàng D nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Đối với việc Lê Hữu L1, Nguyễn Thị Mỹ T1 đi cùng Phạm Hoàng D trên xe ô tô. Qua điều tra, L1 và T1 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì đến việc Phạm Hoàng D mang theo ma túy, do đó không đủ căn cứ xử lý T1 và L1 với vai trò đồng phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy cùng Diễn nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[9] Về vật chứng vụ án :

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Võ Thị T: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MG, màu trắng, biển kiểm soát 66A-183.04; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, có ghi biển đăng ký 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển số 66A-183.04 (bản gốc). Vì đây là tài sản hợp pháp của Võ Thị T giao cho Nguyễn Thái H chạy dịch vụ, bà T không biết việc Phạm Hoàng D tàng trữ ma túy trên xe. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với khối lượng ma túy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo được niêm phong trong túi niêm phong còn lại sau giám định có khối lượng 6,292 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 666, ngày 20/5/2024”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K, Nguyễn Văn S và Phạm Hoàng D; 01 (một) bình tự chế, phía trên có nắp mủ nhựa màu đỏ, có gắn 01 đoạn thuỷ tinh và một ống mũ nhựa (dạng ống hút) màu xanh-trắng, dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; 01 (một) túi vãi màu đen, có dây kéo, không rõ nhãn hiệu. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

Đối với 01(một) phong bì màu trắng (bên trong có khẩu súng ngắn “kiểu súng ổ quay” bằng kim loại và nhựa màu đen, trên súng có dòng chữa “Korth Germany Weffenfa”) được niêm phong lại, trên phong bì có đóng hình dấu màu đỏ của “Phòng K1 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên Võ Cường N1, Trần Văn T2, Hội đồng xét xử xet thấy, căn cứ vào Kết luận giám định số: 713/KL-KTHS, ngày 03/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ và Công văn số: 407/PC09, ngày 15/7/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, thì khẩu súng ngắn trên nguyên là đồ chơi trẻ em bị cấm, không thuộc danh mục vũ khí quân dụng, công cụ hổ trợ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề lám thuê nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 20/5/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn trong túi niêm phong còn lại sau giám định có khối lượng 6,292 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số: 666, ngày 20/5/2024”, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N2, Võ Văn K, Nguyễn Văn S và Phạm Hoàng D; 01 (một) bình tự chế, phía trên có nắp mủ nhựa màu đỏ, có gắn 01 đoạn thuỷ tinh và một ống mủ nhựa (dạng ống hút) màu xanh-trắng, dùng để sử dụng trái phép chất ma tuý; 01 (một) túi vải màu đen, có dây kéo, không rõ nhãn hiệu; 01 (một) phong bì màu trắng (bên trong có khẩu súng ngắn “kiểu súng ổ quay” bằng kim loại và nhựa màu đen, trên súng có dòng chữa "Korth Germany Weffenfa") được niêm phong lại, trên phong bì có đóng hình dấu màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Võ Cường N1, Trần Văn T2.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng D phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/11/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND. TX. Hồng Ngự;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger