Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI

BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Duyên; bà Bùi Thị Ngoan

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024, đối với bị cáo:

Phan Hữu C;

giới tính: Nam; sinh ngày: 12/02/2004; đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phan Hữu Đ và con bà Trần Thị T; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024 chuyển tạm giam, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1989
  2. Nơi cư trú: Khu C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng.

  3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958
  4. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình.

  5. Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1965
  6. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 11 năm 2023, bị cáo Phan Hữu C đăng nhập ứng dụng Youtube xem được một clip dạy cách tự chế pháo nổ, sau đó bị cáo đã học theo hướng dẫn và tự làm được pháo nổ. Sau khi làm được pháo nổ, bị cáo C đã sử dụng tài khoản facebook “Hữu Cương” để tham gia một hội nhóm làm pháo nổ. Thông qua nhóm này, bị cáo biết và liên lạc với tài khoản có tên “H1”, bị cáo C và “H1” thường xuyên liên lạc và trao đổi với nhau trên mạng facebook. Biết bị cáo có thể tự sản xuất pháo nổ nên “Hiếu” đã đặt mua pháo của bị cáo để tết sẽ đốt và thỏa thuận với giá 600.000 đồng sẽ được 01 tràng pháo dài 01m và 03 quả pháo nổ. Sau khi thỏa thuận việc sẽ mua bán pháo nổ, bị cáo và người có nick Facebook là “Hiếu” không liên lạc qua Facebook nữa mà chuyển liên lạc với nhau qua ứng dụng Zalo, bị cáo sử dụng tài khoản Zalo có tên là “Phan Hữu C” còn người hỏi mua pháo có tài khoản Zalo là “M”, cả hai thống nhất sẽ giao pháo vào khoảng giữa tháng 01/2024.

Để sản xuất pháo nổ bán cho “Hiếu”, bị cáo C đã lên trang thương mại điện tử Shopee mua hoá chất làm nguyên liệu sản xuất thuốc pháo gồm 03kg Kaliclorat; 02kg NatriBenzoat; 01kg Lưu huỳnh; 0,5kg bột than xoan với tổng số tiền 780.000đ; 1000 cuộn giấy màu đỏ gồm hai loại: một loại kích thước (1,7x4,2)cm, một loại kích thước (2x5)cm làm pháo tràng và 100 cuộn giấy màu đỏ trên thân vỏ có in chữ màu vàng “An Khang Thịnh Vượng”, gồm hai loại: một loại kích thước (6x4) cm, một loại kích thước (6,3x5) cm để làm pháo đùng với tổng số tiền là 1.360.000 đồng. Khi kiểm tra số lượng vỏ pháo nhận được, bị cáo thấy số vỏ pháo nhận được nhiều hơn số vỏ pháo đặt mua (không nhớ chính xác số lượng là bao nhiêu) và có thêm túi dây dẫn cháy, bị cáo không đếm nên không biết số lượng là bao nhiêu dây dẫn cháy. Quá trình sản xuất pháo, bị cáo đã sử dụng keo 502 từ 03 lọ keo khác để cố định đầu pháo và lấy cát ở vệ đường về sàng lấy cát nhỏ mịn mục đích kết hợp với keo 502 để bít kín đầu pháo.

Sau khi chuẩn bị xong các nguyên liệu, công cụ cần thiết, đến khoảng 08 giờ ngày 08/01/2024, bị cáo C bắt đầu làm pháo tại phòng khách nhà bị cáo. Bị cáo dùng cân điện tử có sẵn trong nhà để cân định lượng các chất để trộn thành thuốc pháo, nhưng làm thấy mất nhiều thời gian nên bị cáo không dùng cân điện tử nữa mà chỉ dùng thìa và dao nạo vỏ hoa quả bằng kim loại chia hoá chất, trộn theo tỷ lệ thành thuốc pháo rồi cho trong vỏ pháo. Bị cáo dùng thìa kim loại múc hoá chất để chế thuốc pháo theo công thức: 05 Kaliclorat + 03 NatriBenzoat + 01 Lưu huỳnh, bị cáo lấy hai lần hoá chất theo công thức trên đổ lần lượt vào hộp kim loại trên vỏ có chữ “NAN”, sau đó đậy nắp, lắc đều đến khi các chất trộn đều với nhau thì đổ ra tờ giấy dưới sàn nhà, rồi lấy một lượng than xoan đựng trong hộp kim loại trên có chữ “ENSURE”, đổ vào hỗn hợp và lấy thìa kim loại trộn đều với nhau để thành thuốc pháo. Sau khi trộn thành thuốc pháo, bị cáo lấy vỏ pháo đã bịt kín một đầu rồi lấy thìa múc thuốc pháo đổ vào bên trong và nén phần thuốc trong vỏ pháo bằng cách đập nhẹ phần đầu pháo đã được bịt kín xuống nền nhà đến khoảng 2/3 thể tích rỗng của vỏ pháo rồi lấy đoạn dây dẫn cháy cho một đầu vào phần lõi rỗng chạm vào thuốc pháo, dùng đầu bút thử điện ấn lần lượt các lớp giấy phần đầu hở, giáp lõi của vỏ pháo để bịt kín lại. Sau đó, bị cáo lấy cát mịn đổ vào phần đầu pháo vừa bịt lại rồi nhỏ keo 502 để gắn chặt đầu pháo lại. Với quy trình sản xuất như trên, bị cáo lần lượt sản xuất các quả pháo tiếp theo. Khi làm được 5 đến 6 quả pháo thì bị cáo kết các quả pháo với nhau bằng đoạn dây cháy chậm với các đọan dây dẫn của quả pháo thành tràng dài 01 mét thì chuyển sang làm tràng pháo tiếp theo. Đến ngày 17/01/2024, bị cáo làm được 10 tràng pháo dài 01 mét; 01 tràng pháo dài 0,5 mét và 33 quả pháo đùng vỏ màu đỏ trên có chữ màu vàng “An Khang Thịnh Vượng”. Sau khi làm xong toàn bộ số pháo, bị cáo C lấy 05 túi nilon màu đen, mỗi túi nilon để 02 tràng pháo dài 01 mét và lấy một túi nilon màu đen để đựng 30 quả pháo kích thước (6x4) cm. Sau đó, bị cáo cho 06 túi nilon màu đen chứa pháo vào trong 01 va li màu xám rồi để lên nóc tủ quần áo trong phòng khách, giấu tràng pháo dài 0,5 mét ở trong phòng ngủ và giấu 03 quả pháo kích thước (6x4) cm trên có chữ “An Khang Thịnh Vượng” ở gầm ghế trong phòng thờ của nhà bị cáo.

Đến khoảng 10 giờ ngày 18/01/2024, theo thỏa thuận với người đặt mua pháo, bị cáo thuê anh Nguyễn Đức H chở bị cáo đi giao pháo cho người tên "Minh H2". Khi anh H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 97A-008.88 đến thì bị cáo bỏ chiếc vali chứa 10 tràng pháo và 30 quả pháo vào cốp sau xe ô tô. Bị cáo không nói cho anh H không biết đi đâu, làm gì, anh H không biết trong vali

chứa pháo nổ. Khi anh H chở bị cáo C đi đến khu vực thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình bị cáo bảo anh H dừng xe ở vệ đường, bị cáo xuống xe tìm người mua pháo thì bị tổ công tác Công an huyện K, Thái Bình bắt quả tang.

Kết luận giám định số 367/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

  • Mẫu ký hiệu M là pháo nổ. Tổng khối lượng là 16,676 kg.
  • Mẫu ký hiệu M1 là pháo nổ. Tổng khối lượng là 0,570 kg.
  • Mẫu ký hiệu M2 là pháo nổ. Tổng khối lượng là 0,153 kg.

Kết luận giám định số 429/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

  • Các mẫu ký hiệu: M3.1, M3.2, M4.1, M4.2, M5.1, M5.2, M6, M7.1, M7.2, M7.3, M7.4, M7.5, M7.6 không phải là vật liệu nổ. Trong đó, mẫu ký hiệu M5.1 là Natri cacbonat (Na2CO3); M5.2 là Cát (thành phần chính gồm SiO2); M7.1là Lưu huỳnh (S); M7.2 là Natri benzoat (C7H5NaO2), M7.3 là Natri benzoat (C7H5NaO2); M7.4 là Bột than (C); M7.5 là Natri benzoat (C7H5NaO2); M7.6 là Kali chlorat (KClO3). Các chất Kali chlorat (KClO3), Bột than (C), Lưu huỳnh (S) là chất thường dùng để chế tạo thuốc pháo nổ.
  • Các mẫu ký hiệu: M3.1, M3.2, M4.1, M6 là thuốc pháo nổ. Trong đó, mẫu ký hiệu M3.1 có thành phần chính gồm Kali chlorat (KCLO3), Bột than (C); Mẫu ký hiệu M3.2 có thành phần chính gồm Kali chlorat (KCLO3), Bột than (C), N1 (C7H5NaO2), Lưu huỳnh (S); Mẫu ký hiệu M4.1 có thành phần chính gồm Kali chlorat (KClO3), Bột than (C), N1 (C7H5NaO2), Lưu huỳnh (S); Mẫu ký hiệu M6 có thành phần chính gồm Kali chlorat (KClO3), N1 (C7H5NaO2), Lưu huỳnh (S).
  • Mẫu ký hiệu M4.2 là Ngòi pháo, thành phần chính gồm Kalichlorat (KClO3), Bột than (C).
  • + Khối lượng các mẫu lần lượt là M3.1: 0,396 kg; M3.2: 0,004 kg; M4.1: 0,337 kg; M4.2: 0,026 kg; M5.1: 1,865 kg; M5.2: 1,708 kg; M6: 1,124kg, M7.1: 0,611 kg; M7.2: 0,493 kg; M7.3: 0,934 kg; M7.4: 0,112 kg; M7.5: 1,001 kg; g; M7.6: 1,458 kg

Kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: "Các mẫu pháo nổ ký hiệu M, M1, M2 có thành phần chính gồm Kali chlorat (KClO3), N1 (C7H5NaO2), Lưu huỳnh (S).

Cáo trạng số 53/CT-VKSKX ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Phan Hữu C về tội: “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Hữu C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Phan Hữu C phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
  • Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Hữu C từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024. Phạt bổ sung đối với bị cáo C từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy 08 thùng cát tông màu nâu được niêm phong (trong đó có 03 thùng đựng pháo nổ, 05 thùng đựng hóa chất là nguyên liệu chế tạo thuốc pháo).
    • Tịch thu tiêu hủy vật chứng là phương tiện, công cụ, vật liệu để sản xuất pháo.
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng và 01 vali màu xám.
  • Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố và không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương và

Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Phan Hữu C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện K lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 18/01/2024; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Công an huyện K lập hồi 14 giờ 05 phút ngày 18/01/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện K lập hồi 14 giờ 25 phút ngày 18/01/2024 ; biên bản khám xét và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 18/01/2024 tại chỗ ở của bị cáo Phan Hữu C; biên bản thực nghiệm điều tra; công văn trả lời của Công ty cổ phần V; công văn trả lời của V1; lời khai của anh Trần Ngọc A, anh Nguyễn Đức H, ông Nguyễn Văn L và ông Vũ Văn T1; bản kết luận giám định số 367/KL-KTHS ngày 23/01/2024, bản kết luận giám định số 429/KL-KTHS và bản kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, loại hàng cấm mà bị cáo đã sản xuất, buôn bán.

[3] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài, nên khoảng cuối tháng 11/2023, bị cáo Phan Hữu C đã lên mạng đặt mua nguyên liệu là các chất hóa học và sử dụng một số dụng cụ có sẵn về tự sản xuất, chế tạo pháo nổ theo đơn đặt hàng của một người nam giới không biết danh tính, địa chỉ. Từ ngày 08/01/2024 đến ngày 17/01/2024, tại nơi ở của mình bị cáo C đã sản xuất, chế tạo được 10 tràng pháo mỗi tràng dài 01m; 01 tràng pháo dài 0,5m và 33 quả pháo nổ có tổng khối lượng 17,399kg. Đến khoảng 12 giờ 00 ngày 18/01/2024, bị cáo C mang theo 10 tràng pháo (mỗi tràng dài 01m) và 30 quả pháo nổ có tổng khối lượng 16,676kg đến khu vực đường D thuộc thôn N, xã Đ, huyện K để giao cho người mua như đã thỏa thuận nhưng chưa kịp giao thì bị Công an huyện K bắt quả tang. Khám xét nơi ở của bị cáo C, Cơ quan điều tra còn thu giữ được 0,723kg pháo mục đích để bán kiếm lời. Do đó, bị cáo Phan Hữu C đã phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c

Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 190 Bộ luật Hình sự: Tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a)...c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;...4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".

[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước cấm đầu tư, kinh doanh theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư. Mặc dù biết rõ các quy định của pháp luật, đặc biệt là Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân một cách bất hợp pháp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh. Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và cần thiết phải xử phạt tù để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Phan Hữu C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo sản xuất, buôn bán pháo nhằm mục đích thu lời bất chính nên áp dụng Khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[6.1] Đối với số pháo nổ đựng trong 03 thùng cát tông màu nâu và hóa chất là nguyên liệu chế tạo thuốc pháo đựng trong 05 thùng cát tông màu nâu là mặt hàng Nhà nước cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển nên tịch thu tiêu hủy.

[6.2] Đối với: 01 dao phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 9,6cm, mũi nhọn, phần sống dao bị khuyết có kích thước (5x1,5)cm, phần cán dao bằng nhựa màu nâu hình trụ tròn kích thước (8,3x1,3)cm; 01 cân điện tử màu trắng; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 42 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ hai đầu hở kích thước đều là (1,7x4,2)cm; 01 bút thử điện có cán màu trắng, đỏ; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 03 lọ keo 502; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 05 cuộn giấy hình trụ tròn kích thước đều là (5,3x17)cm; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 56 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân đều có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng; 01 thìa kim loại mặt trước, mặt sau đều bám dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 272 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ một đầu được bịt kín, một đầu để hở; 05 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ hai đầu đều hở kích thước (3,8x6,3)cm; 01 cuộn giấy màu đỏ kích thước (2x5)cm, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây màu trắng; 01cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân đều có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng, hai đầu được bịt kín, một đầu gắn sợi dây màu trắng, kích thước cuộn (6x4)cm; 01(một) cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng, một đầu gắn đoạn dây màu trắng, kích thước cuộn (6,3x5)cm là những công cụ, phương tiện, vật liệu bị cáo sử dụng để sản xuất pháo nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[6.3] Đối với 01 chiếc vali màu xám kích thước (27 x 41 x 16) cm bị cáo dùng để chứa pháo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng đã qua sử dụng bị cáo dùng để liên lạc mua bán pháo còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để sung ngân sách nhà nước.

[6.4] Đối với Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO GENTRA, màu trắng, biển kiểm soát 97A-008.88, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đức H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho anh H là đúng quy định, anh H đã nhận lại xe không có ý kiến, đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết.

[7] Đối với người đã đặt mua pháo nổ của bị cáo C, bị cáo quen biết qua mạng xã hội, chưa gặp mặt, không biết địa chỉ và thông tin cá nhân của người này. Người này đã sử dụng số điện thoại 0943.777.xxx và tài khoản Zalo có tên

“Minh H2” để liên lạc, thỏa thuận mua bán pháo với bị cáo. Quá trình điều tra xác định, chủ đăng ký số điện thoại nêu trên là anh Trần Ngọc A, anh Ngọc A đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam N2, anh Ngọc A đã làm mất sim điện thoại trước thời điểm bị bắt giữ, khởi tố nên chưa thực hiện việc báo khóa, báo mất số điện thoại này, ai đang quản lý sử dụng số thuê bao trên anh không rõ. Cơ quan điều tra không xác định được số điện thoại dùng để đăng ký tài khoản, danh tính của người sử dụng tài khoản Zalo có tên “Minh H3” vì vậy không xác định được người đã liên lạc, đặt mua pháo nổ của bị cáo.

[8] Đối với số hoá chất, nguyên liệu để sản xuất pháo nổ trên trang thương mại điện tử Shopee, bị cáo C không lưu, không nhớ tài khoản, địa chỉ của trang, không có thông tin về người quản lý tài khoản đã bán số hoá chất, nguyên liệu cho bị cáo. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xác định được nguồn gốc số hoá chất, nguyên liệu bị cáo đã sử dụng để sản xuất pháo nổ.

[9] Đối với anh Nguyễn Đức H là người điều khiển xe ô tô nhãn hiệu DAEWOO GENTRA, màu trắng, biển kiểm soát 97A-008.88 chở bị cáo C đến thôn N, xã Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình để giao pháo cho người mua. Quá trình điều tra xác định, trước đó bị cáo C và anh H không quen biết nhau, anh H được bị cáo gọi điện thoại để thuê chở bị cáo sang huyện K, tỉnh Thái Bình. Bị cáo không nói cho anh H biết cụ thể bị cáo đi đâu, làm gì, gặp gỡ ai, anh H không biết việc bị cáo sản xuất, vận chuyển, buôn bán pháo, vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh H.

[10] Về án phí: Bị cáo Phan Hữu C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Khoản 3 Điều 35; Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Hữu C phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Hữu C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy số pháo nổ đựng trong 03 thùng cát tông màu nâu và hóa chất là nguyên liệu chế tạo thuốc pháo đựng trong 05 thùng cát tông màu nâu.

(Vật chứng nêu trên do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T đang quản lý)

3.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 dao phần lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 9,6cm, mũi nhọn, phần sống dao bị khuyết có kích thước (5 x 1,5)cm, phần cán dao bằng nhựa màu nâu hình trụ tròn kích thước (8,3 x 1,3)cm; 01 cân điện tử màu trắng; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 42 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ hai đầu hở kích thước đều là (1,7 x 4,2)cm; 01 bút thử điện có cán màu trắng, đỏ; 01 túi nilon màu hồng bên trong có 03 lọ keo 502; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 05 cuộn giấy hình trụ tròn kích thước đều là (5,3 x 17)cm; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 56 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân đều có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng; 01 thìa kim loại mặt trước, mặt sau đều bám dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon trong suốt bên trong có 272 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ một đầu được bịt kín, một đầu để hở; 05 cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ hai đầu đều hở kích thước (3,8 x 6,3)cm; 01 cuộn giấy màu đỏ kích thước (2 x 5)cm, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây màu trắng; 01cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân đều có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng, hai đầu được bịt kín, một đầu gắn sợi dây màu trắng, kích thước cuộn (6 x 4)cm; 01(một) cuộn giấy hình trụ tròn màu đỏ trên thân có dòng chữ “An Khang Thịnh Vượng” màu vàng, một đầu gắn đoạn dây màu trắng, kích thước cuộn (6,3 x 5)cm.

3.3. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc vali màu xám kích thước (27 x 41 x 16) cm bị cáo dùng để đựng pháo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S thu giữ của bị cáo.

(Những vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương đang quản lý).

4. Về án phí: Bị cáo Phan Hữu C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo Phan Hữu C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Kiến Xương;
  • - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - CQĐT Công an huyện Kiến Xương;
  • - CQTHAHS Công an huyện Kiến Xương;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Xương;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (sản xuất, buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sản xuất, buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Hữu C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger