Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 20 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hoa Lài
  2. Ông Trần Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

TRẦN THANH TUẤN - sinh năm 1986; tên gọi khác: Không có; nơi sinh: Tại huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng T1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1969; Bị cáo: có vợ Võ Kim N, đã ly hôn, có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2020, bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cao Lý T2, sinh năm 1998. (có mặt)

Trú tại: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lưu Thị L1, sinh năm 1976 – Có mặt

Trú tại: Ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Ông Trần Hoàng T1, sinh năm 1969; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt

Người làm chứng: Nguyễn Minh K – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 04 giờ ngày 04/4/2024, khi đang ở nhà Trần Thanh T3 nhớ lại chuyện mâu thuẫn, cự cãi với Cao Lý T2 nên tức giận lấy con dao bằng kim loại dài 71 cm, phần cán dao tròn có quấn băng keo màu đen dài 30 cm, đường kính 2,3cm, lưỡi dao dài 41cm, sắc bén một bề, chỗ rộng nhất 07 cm, hẹp nhất 03 cm điều khiển xe mô tô Wave màu đen không có biển số kiểm soát đi tìm Cao Lý T2. Khi đến hẻm chùa T6 ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang, T3 thấy T2 ngồi bấm điện thoại trước cửa nhà bà Lý Thị P nên dừng xe lại đi đến định chém T2 thì T2 cầm ghế nhựa ném về phía T3 và bỏ chạy vào nhà bà P, T3 tiếp tục đuổi theo phía sau chém nhiều cái về phía phía T2 làm chảy máu vùng đầu và tay phải. Thấy T2 chảy máu và người dân la lên nên T3 cầm dao, chạy xe về nhà ngủ, Cao Lý T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ.

Đối với Trần Thanh T3 đến khoảng 10 giờ cùng ngày qua sự việc trình báo của người dân có mặt tại hiện trường đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tiến hành xét nghiệm chất ma cơ thể đối với Trần Thanh T3 xác định: T3 dương tính với chất ma túy trong cơ thể, đã sử dụng ma túy đá loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 170/KITTCT-TTPYCT ngày 08/4/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y đã kết luận; Các vết thương vùng giữa đỉnh đầu, vùng trán trái trên cung mày, đốt giữa ngón V bàn tay phải đã được điều trị. Hiện các vết thương đang lành.

Vết thương mặt trước 1/3 trên cẳng tay phải gây đứt động mạch quay, đứt các gân co đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương, khâu gân cơ, khâu mạch máu và điều trị nội khoa. Hiện tại vết thương và mở rộng vết thương đang lành, mạch chỉ rõ.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Lý T2 tại thời điểm giám định là 12%.

Tỷ lệ từng vết thương: Vết thương vùng đỉnh đầu có tỷ lệ 03%; Vết thương vùng trán trái lên cung mày có tỷ lệ 03%; Vết thương và mở rộng vết thương 1/3 trên ngoài cẳng tay phải có tỷ lệ 02%; Vết thương đốt giữa ngón V bàn tay phải có tỷ lệ 01%; Đứt động mạch quay tỷ lệ 04%.

Chiều hướng các vết thương: Do tại thời điểm giám định các vết thương đã cắt lọc, khâu nối và mở rộng vết thương để thám sát (vết thương 1/3 trên cẳng tay phải) nên không có cơ sở khoa học để xác định chiều hướng của các vết thương.

Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên người sống số 295/KLTTCT- TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y đã giám định và kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ thương tích do di chứng vận động và ảnh hưởng chức năng thần kinh của ông Cao Lý T2 tại thời điểm giám định bổ sung là 02%,

Tổng tỷ lệ thương tích của hai lần giám định là 14%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại Kết luận giám định số 2514/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của Phân viện khoa hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Mẫu tâm bông thu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường và trên lưỡi dao đều có dính máu người. Phân tích ADN từ các mẫu máu này được cùng một kiểu gen nam giới và trùng với kiểu gen của bị hại Cao Lý T2.

Vật chứng trong vụ án đang tạm giữ:

Đối với 01 con dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, sắc bén một bề, tổng chiều dài 71cm, phần cán dao tròn, đường kính 2,3 cm dài 30cm có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 41cm, chỗ rộng nhất 7cm, nhỏ nhất 3cm là của bị cáo Trần Thanh T3 dùng gây thương tích cho bị hại Cao Lý T2.

Đối với xe mô tô màu đen không có biển số kiểm soát, số khung RLHHC09076T230481, số máy HC09E6230461, là của bị cáo mua lại của người khác không có giấy đăng ký xe, quá trình sử dụng đã làm mất biển số kiểm soát xe. Qua làm việc với chủ đăng ký phương tiện là anh Cao Minh Hồng Duy T4 (sinh năm 1981, đăng ký thường trú tại tổ dân phố F, khu phố E, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) xác định xe mô tô nói trên có biển kiểm soát 52X-5136 do anh đứng tên chủ sử dụng, tuy nhiên năm 2010 anh đã bán xe cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên trong giấy đăng ký xe. Đối với xe mô tô nói trên anh không tranh chấp gì.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cao Lý T2 yêu cầu bị cáo Trần Thanh T3 bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Do Cao Lý T2 bị bắt tạm giam tại Cơ sở giam giữ - Công an huyện C nên ông Trần Hoàng T1 – cha ruột bị can Trần Thanh T3)đã gặp bà Lưu Thị L1 mẹ ruột Cao Lý T2 để bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS-HCTA ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Trần Thanh T3 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị hại Cao Lý T2 không yêu cầu bồi thường thêm và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T3 thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo đang nuôi hai con chưa thành niên, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, ông Trần Hoàng T1 là cha bị cáo không yêu cầu bị cáo trả tiền.

Tại phiên tòa, bà Lưu Thị L1 trình bày: Bà có nuôi bị hại Cao Lý T2 tại bệnh viện 02 ngày nhưng không yêu cầu bị cáo bồi thường tiền công nuôi bệnh.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh T3 về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây thương tích bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần Thanh T3 từ 02 năm đến 02 năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 04/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, sắc bén một bề, tổng chiều dài 71cm, phần cán dao tròn, đường kính 2,3 cm dài 30cm có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 41cm, chỗ rộng nhất 7cm, nhỏ nhất 3cm đã qua sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô loại Wave màu đen không có biển số kiểm soát, số khung RLHHC09076T230481, số máy HC09E6230461.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét về thủ tục tố tụng:
    1. Về hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A; Điều tra viên; kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng là đúng quy định.
    2. Về sự vắng mặt của người làm chứng: Tại phiên tòa vắng mặt ông Nguyễn Minh K. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, xét thấy sự vắng mặt của ông K không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đối ông K là đúng quy định pháp luật.
  2. Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thanh T3 thừa nhận hành vi bị cáo thực hiện. Đối chiếu lời thừa nhận của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh được như sau: Do mâu thuẫn cá nhân trong chuyện tình cảm nam nữ nên vào khoảng 04 giờ ngày 04/4/2024, bị cáo Trần Thanh T3 đã mang theo dao tự chế đi tìm bị hại Cao Lý T2 để trả thù. Khi nhìn thấy bị hại T2 đang ngồi uống cà phê và bấm điện thoại cặp lộ tại ấp T, thị trấn C thì bị cáo dựng xe và cầm dao tự chế đi đến chỗ bị hại, bị hại ném ghế nhựa và hất ly nước vào mặt bị cáo và chạy vào nhà thì bị cáo đi theo và chém nhiều nhát vào đầu, tay phải của bị hại. Kết luận giám định tỉ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe 14%.
    1. Về tội danh: Bị cáo Trần Thanh T3 thực hiện hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các vết thương của bị hại ở đỉnh đầu, trán trái và tay phải, do vật sắc bén gây ra. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi vào ban đêm, bị cáo không xác định được vị trí gây thương tích cho bị hại, mục đích chém của bị cáo chỉ gây thương tích cho bị hại, không nhằm mục đích giết người. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp là dùng “hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ”. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thanh T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    2. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn yêu cầu nhẹ hình sự cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
    3. Về hành vi, tính chất mức độ phạm tội và hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng dao tự chế để giải quyết mâu thuẫn, thể hiện thái độ hung hãn, xem thường pháp luật. Bản thân bị cáo từng chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện, ở đó bị cáo được học tập, giáo dục và chấp hành nội quy, cũng như chấp hành pháp luật tại cơ sở cai nghiện, bị cáo phải coi đó là bài học để rút nghiệm cho bản thân. Do đó, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xem xét yếu tố hoàn cảnh gia đình bị cáo như bị cáo đang nuôi 02 con chưa thành niên, cha mẹ bị cáo đã lớn tuổi để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo. Đồng thời, giúp bị cáo cai nghiện ma túy, sau này về giúp ích cho gia đình.
  3. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại ông Cao Lý T2 không yêu cầu bồi thường thêm, bà Lưu Thị L1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, sắc bén một bề, tổng chiều dài 71cm, phần cán dao tròn, đường kính 2,3 cm dài 30cm có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 41cm, chỗ rộng nhất 7cm, nhỏ nhất 3cm đã qua sử dụng là hung khí phạm tôi. Xét thấy vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

    Đối với 01 (một) xe mô tô loại Wave màu đen không có biển số kiểm soát, số khung RLHHC09076T230481, số máy HC09E6230461. Là phương tiện phạm tội nên cần tích thu sung ngân sách Nhà nước.

  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
  6. Từ những phân tích nêu trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 293, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T3 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn, sắc bén một bề, tổng chiều dài 71cm, phần cán dao tròn, đường kính 2,3 cm dài 30cm có quấn băng keo màu đen; phần lưỡi dao dài 41cm, chỗ rộng nhất 7cm, nhỏ nhất 3cm đã qua sử dụng.

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô loại Wave màu đen không có biển số kiểm soát, số khung RLHHC09076T230481, số máy HC09E6230461.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Trần Thanh T3 phải chịu án phí hình sự 200.000đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Văn T5 N

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Á

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TUẤN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger