Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày: 24-05-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh Hải.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn; Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânTP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 24/05/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 566/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 04 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T

Địa chỉ liên hệ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Taniguchi Noboru, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1988; địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, TP Hồ Chí Minh. Ông Taniguchi N và ông D vắng mặt.

Bị đơn: Bà Mai Thị Bích P, sinh năm 1997; vắng mặt

Địa chỉ: Thôn D, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu D trình bày:

Ngày 14/12/2022, Công ty T (viết tắt là JIVF) và bà Mai Thị Bích P ký Hợp đồng số 9301500035637960000 với nội dung bà P vay số tiền 25.000.000đ, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 4.35%/tháng, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn. Khoản vay không có tài sản bảo đảm.

Thời hạn thanh toán 24 tháng, mỗi tháng Bà P phải thanh toán cho JIVF số tiền là 1,710,951 đồng vào trước hoặc đúng ngày 12 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Từ ngày 11/01/2023 đến ngày 22/04/2023, bà P thanh toán được cho JIVF số tiền là 6.853.670 đồng. Sau ngày 22/04/2023 đến nay, Bà P không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán và cố tình lẩn tránh. Việc Bà P không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm Điều 3; Điều 8 của hợp đồng số 930150003563796000 ngày 14/12/2022 mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết

Nay, Công ty yêu cầu:

  • - Buộc Bà P phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho JIVF, số tiền tạm tính đến hết ngày 24/05/2024 là 37.602.391 đồng, trong đó 22.223.298 đồng tiền nợ gốc; 12.977.292 đồng tiền nợ lãi trong hạn; lãi quá hạn: 2.251.801 đồng, phí: 156.000 đồng.
  • - Bà P phải tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí từ sau ngày 24/05/2024 cho đến khi hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 930150003563796000 ngày 14/12/2022.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt và không có ý kiến gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn hai lần tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn giải quyết vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
  • - Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty J.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật: Công ty J khởi kiện bà P phải trả số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên nên xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ lần hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
  2. Về nội dung:
    1. Đối với Hợp đồng tín dụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ Hợp đồng tín dụng số 930150003563796000 ngày 14/12/2022 đủ cơ sở xác định bà P có vay của Công ty J số tiền nợ gốc là 22.223.298 đồng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn: 4,35%/tháng, lãi quá hạn 150% lãi trong hạn, khoản vay không có tài sản bảo đảm là đúng sự thật. Hợp đồng tín dụng ngày 14/12/2022 đủ điều kiện có hiệu lực.

    Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 22/04/2023, bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ và ngân hàng chuyển nợ quá hạn là đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định pháp luật.

    1. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty J về việc buộc bà P phải trả cho Công ty J tổng số tiền tính đến ngày 24/05/2024 là 37.602.391 đồng, trong đó 22.223.298 đồng tiền nợ gốc; 12.977.292 đồng tiền nợ lãi trong hạn; lãi quá hạn: 2.251.801 đồng, phí: 156.000 đồng. Từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/05/2024), bà P phải tiếp tục trả lãi của số tiền chưa trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận Hợp đồng tín dụng số 930150003563796000 ngày 14/12/2022 cho đến khi trả hết nợ là đúng với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong vụ án, phù hợp quy định tại các Điều 280, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên cần chấp nhận.
  3. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên bị đơn đều vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ và không có ý kiến về tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp là từ bỏ quyền chứng minh và phải chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt là phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
  5. Về án phí:
    • - Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm trên số nợ phải trả 37.602.391 đồng là 1.880.120 đồng.
    • - Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 288, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng, Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng với bà P.
  • Buộc bà Mai Thị Bích P phải trả cho Công ty T JACCS số tiền tính đến ngày 24/05/2024 là 37.602.391 đồng, trong đó 22.223.298 đồng tiền nợ gốc; 12.977.292 đồng tiền nợ lãi trong hạn; lãi quá hạn: 2.251.801 đồng, phí: 156.000 đồng.
  • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/05/2024) bà Mai Thị Bích P phải tiếp tục trả lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 22/10/2020 cho đến khi trả hết nợ.
  • - Án phí dân sự: bà Mai Thị Bích P phải chịu 1.880.120 đồng tiền án phí sơ thẩm.
  • Trả lại cho Công ty T JACCS số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001350 ngày 09/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
  • Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND TP.Vũng Tàu;
  • - Chi cục THA TP.Vũng Tàu;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Minh Hải

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

Đặng Ngọc Thương

Vũ Văn Chương

Ngô Thị Minh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger