TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/DS-ST Ngày 19-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Bùi Đình Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu P - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, địa chỉ: D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Thanh N, địa chỉ: Số A H, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng – là nhân viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 764/UQ-CNTL.24 ngày 25/03/2024). Bà Trần Thị Thanh N có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1, nơi ĐKHKTT: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: 151B phố M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị N1 có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn S, nơi cư trú: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng (đã chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S:
Cụ Bùi Thị C, nơi cư trú: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng – là mẹ đẻ của ông Nguyễn Văn S. Vắng mặt.
Cháu Nguyễn Minh C1, sinh ngày 13/3/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2, sinh ngày 11/9/2011, đều trú tại: Thôn A (nay thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng – là con đẻ của ông Nguyễn Văn S. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Ngọc B Châm là bà Nguyễn Thị H, trú tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng – là mẹ đẻ. Vắng mặt.
Bà Trịnh Thị H1, nơi cư trú: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng – là vợ của ông Nguyễn Văn S. Vắng mặt.
2. Bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1978, đều trú tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
3. Cụ Bùi Thị C, sinh năm 1944, nơi cư trú: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
4. Cháu Nguyễn Minh C1, sinh ngày 13/3/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2, sinh ngày 11/9/2011, đều trú tại: Thôn A (nay thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Ngọc B Châm là bà Nguyễn Thị H, nơi cư trú: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng – là mẹ đẻ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á cho bà Nguyễn Thị N1 vay vốn theo các hợp đồng tín dụng như sau:
1. Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021 (Hợp đồng tín dụng này dựa trên thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NGQ.CN.980.300721 ngày 30/7/2021) với nội dung: Ngân hàng TMCP Á cho bà Nguyễn Thị N1 vay số tiền 3.100.000.000 đồng; mục đích vay vốn: mua bán, đất không thuộc dự án – Nhà ở - Bên được cấp tín dụng mua nhà tại thửa 1033A An Thắng, A, huyện T, thành phố Hải Phòng; được giải ngân bằng Khế ước nhận nợ số 01/TKV:343808229 ngày 22/9/2021, cụ thể: thời hạn vay 240 tháng, từ ngày 22/9/2021 đến ngày 21/9/2041; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất trong hạn: 8,9%/năm, cố định trong thời hạn 24 tháng. Lãi suất đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LS13 + 3,5%/năm (LS13 được quy định tại Khế ước nhận nợ)
Phương thức trả nợ gốc và tiền lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 22 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc, lãi đầu tiên vào ngày 22/10/2021. Số tiền nợ gốc hàng tháng phải trả trả theo Khế ước nhận nợ số 01/TKV:343808229 ngày 22/9/2021, số tiền nợ lãi hàng tháng phải trả tính trên tổng số nợ gốc còn lại.
Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất lãi suất trong hạn.
Lãi suất chậm trả: 10%/năm đối với số tiền lãi trong hạn chưa trả.
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 đã trả cho Ngân hàng được:
- Số nợ gốc: 36.540.000 đồng
- Số nợ lãi trong hạn: 549.585.531 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 586.125.531 đồng.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 22/8/2023
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 3.063.460.000 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 67.027.860 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 318.508.330 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 6.683.959 đồng.
- Tổng cộng: 3.455.680.149 đồng.
2. Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 (Hợp đồng tín dụng này dựa trên thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NGQ.CN.1973.260523 ngày 26/5/2023) với nội dung: Ngân hàng TMCP Á cho bà Nguyễn Thị N1 vay số tiền 2.100.000.000 đồng; mục đích vay vốn: sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động; được giải ngân bằng ba khế ước với thời gian vay khác nhau, cụ thể:
a. Khế ước 01/TKV:398581879 ngày 26/5/2023 thời hạn vay 06 tháng, từ ngày 27/5/2023 đến ngày 26/11/2023; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất trong hạn: 8%/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi suất đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,00%/năm.
Phương thức trả nợ gốc trả vào ngày cuối cùng của kỳ vay, trả nợ lãi vào ngày 26 hàng tháng.
Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất lãi suất trong hạn.
Lãi suất chậm trả: 10%/năm đối với số tiền lãi trong hạn chưa trả.
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 đã trả cho Ngân hàng được:
- Số nợ gốc: 0 đồng
- Số nợ lãi trong hạn: 21.742.466 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 21.742.466 đồng.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 27/6/2023.
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 800.000.000 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 10.345.205 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 78.378.082 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 1.014.680 đồng.
- Tổng cộng: 889.737.967 đồng.
b. Khế ước 02/TKV:404774509 ngày 25/7/2023 thời hạn vay 06 tháng, từ ngày 26/7/2023 đến ngày 25/01/2024; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất trong hạn: 8%/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi suất đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,00%/năm.
Phương thức trả nợ gốc trả vào ngày cuối cùng của kỳ vay, trả nợ lãi vào 26 hàng tháng.
Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất lãi suất trong hạn.
Lãi suất chậm trả: 10%/năm đối với số tiền lãi trong hạn chưa trả.
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 đã trả cho Ngân hàng được:
- Số nợ gốc: 0 đồng
- Số nợ lãi trong hạn: 11.046.575 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 11.046.575 đồng.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 26/8/2023
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 800.000.000 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 14.027.397 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 73.117.808 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 1.498.818 đồng.
- Tổng cộng: 888.644.023 đồng.
c. Khế ước 03/TKV:404880229 ngày 26/7/2023 thời hạn vay 06 tháng, từ ngày 27/7/2023 đến ngày 26/01/2024; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất trong hạn: 8%/năm, cố định trong thời hạn 06 tháng. Lãi suất đó được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất (%/năm) = LSCS + 3,00%/năm.
Phương thức trả nợ gốc trả vào ngày cuối cùng của kỳ vay, trả nợ lãi vào 26 hàng tháng.
Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất lãi suất trong hạn.
Lãi suất chậm trả: 10%/năm đối với số tiền lãi trong hạn chưa trả.
Phương thức giải ngân: Chuyển khoản.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 đã trả cho Ngân hàng được:
- Số nợ gốc: 0 đồng
- Số nợ lãi trong hạn: 6.904.109 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 6.904.109 đồng.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 27/8/2023
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 500.000.000 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 8.657.535 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 45.698.630 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 849.150 đồng.
- Tổng cộng: 555.205.315 đồng.
3. Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng:
Ngày 29 tháng 7 năm 2021 bà Nguyễn Thị N1 ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ áp dụng cho khách hàng cá nhân kèm theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, có tài sản thế chấp, thời hạn 36 tháng, hạn mức tín dụng được cấp thông qua hình thức phát hành thẻ cho chủ thẻ để thực
hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ và ứng tiền mặt; mục đích sử dụng tiêu dùng; phí theo quy định về biểu phí, lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á phát hành. Ngày 13 tháng 8 năm 2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á cấp thẻ tín dụng quốc tế JCB vàng cho bà Nguyễn Thị N1.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà Nguyễn Thị N1 được rút tiền mặt hoặc sử dụng tiêu dùng trong tháng. Hàng tháng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á sẽ lập bảng thông báo giao dịch thẻ tín dụng liệt kê chi tiết các giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh trong kỳ giao dịch lần trước, tổng số dư nợ, số tiền đã thanh toán, số dư nợ đầu kỳ, số dư nợ cuối kỳ, số tiền thanh toán tối thiểu và ngày thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á sẽ gửi thông báo giao dịch thẻ tín dụng qua số điện thoại của bà Nguyễn Thị N1 đã đăng ký tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Nếu quá thời hạn theo thông báo mà bà Nguyễn Thị N1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã thông báo thì bà Nguyễn Thị N1 sẽ phải chịu lãi, phí của số tiền đã sử dụng hoặc đã rút. Đối với giao dịch rút tiền mặt thì tiền phí rút tiền mặt là 4% trên tổng số tiền rút một lần, tối thiểu là 100.000 đồng/1 lần rút tiền. Đối với giao dịch sử dụng cho mục đích tiêu dùng thì 3 kỳ sao kê đầu (trong 45 ngày) lãi là 0%, hết 45 ngày mà chủ sử dụng thẻ không trả tiền thì lãi suất là 28%/năm. Chủ sử dụng thẻ phải chịu các loại phí, khách hàng vi phạm phí nào thì phải chịu phí đấy (kèm theo biểu phí và bảng sao kê).
Do bà Nguyễn Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 02 tháng 02 năm 2024. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã chuyển khoản vay của bà Nguyễn Thị N1 sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ của bà Nguyễn Thị N1 và thu hồi toàn bộ khoản nợ của thẻ tín dụng chưa thanh toán.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 chưa trả được nợ cho A.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 02/02/2024.
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 56.169.914 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 12.648.008 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 68.817.922 đồng.
4. Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A:
Ngày 10 tháng 8 năm 2022 bà Nguyễn Thị N1 ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ áp dụng cho khách hàng cá nhân kèm theo bản các điều
khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, hạn mức tín dụng được cấp thông qua hình thức phát hành thẻ cho chủ thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ và ứng tiền mặt; mục đích sử dụng tiêu dùng; phí theo quy định về biểu phí, lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á phát hành. Ngày 10 tháng 8 năm 2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á cấp thẻ tín dụng quốc tế A cho bà Nguyễn Thị N1.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà Nguyễn Thị N1 được rút tiền mặt hoặc sử dụng tiêu dùng trong tháng. Hàng tháng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á sẽ lập bảng thông báo giao dịch thẻ tín dụng liệt kê chi tiết các giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh trong kỳ giao dịch lần trước, tổng số dư nợ, số tiền đã thanh toán, số dư nợ đầu kỳ, số dư nợ cuối kỳ, số tiền thanh toán tối thiểu và ngày thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á sẽ gửi thông báo giao dịch thẻ tín dụng qua số điện thoại của bà Nguyễn Thị N1 đã đăng ký tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Nếu quá thời hạn theo thông báo mà bà Nguyễn Thị N1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã thông báo thì bà Nguyễn Thị N1 sẽ phải chịu lãi, phí của số tiền đã sử dụng hoặc đã rút. Đối với giao dịch rút tiền mặt thì tiền phí rút tiền mặt là 4% trên tổng số tiền rút một lần, tối thiểu là 100.000 đồng/1 lần rút tiền. Đối với giao dịch sử dụng cho mục đích tiêu dùng thì 3 kỳ sao kê đầu (trong 45 ngày) lãi là 0%, hết 45 ngày mà chủ sử dụng thẻ không trả tiền thì lãi suất là 28%/năm. Chủ sử dụng thẻ phải chịu các loại phí, khách hàng vi phạm phí nào thì phải chịu phí đấy (kèm theo biểu phí và bảng sao kê).
Do bà Nguyễn Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 05/02/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã chuyển khoản vay của bà Nguyễn Thị N1 sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ của bà Nguyễn Thị N1 và thu hồi toàn bộ khoản nợ của thẻ tín dụng chưa thanh toán.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị N1 tính đến ngày 19/9/2024 chưa trả được nợ cho A.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 02/02/2024.
Hiện nay, tính đến ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị N1 còn nợ như sau:
- Số nợ gốc: 110.002.847 đồng.
- Số nợ lãi trong hạn: 0 đồng.
- Số nợ lãi quá hạn: 18.507.065 đồng.
- Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 128.509.912 đồng.
Tài sản bảo đảm cho toàn bộ các khoản vay nêu trên là:
- Quyền sử dụng 221,2 m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021.
Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 819, quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng Công chứng Nguyễn Nhật Q, thành phố Hải Phòng công chứng ngày 23/9/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
- Quyền sử dụng 362 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 269507, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 00755 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/4/2020 cho bà Nguyễn Thị Thủy N2, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 12/10/2021.
Tài sản này được thế chấp tài Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 1277, quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng Công chứng Nguyễn Nhật Q, thành phố Hải Phòng công chứng ngày 27/10/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
- Căn hộ A1.24.10 (tầng B) Tòa nhà SHP P đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1.
Tài sản này được thế chấp tài Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 430 quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng Công chứng Nguyễn Nhật Q, thành phố Hải Phòng công chứng ngày 12/8/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với với các thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Ngân hàng TMCP Á đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ. Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng 362 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thì theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ chiều dài diện tích đất giáp hộ bà Nguyễn Thị M là 27 m có vị trí từ mốc 3-4 là 9,6 m và từ mốc 4 đến 5 là 17,4 m, có sự khác nhau về hình thể so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đề nghị Toà án căn cứ vào hiện trạng đất theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ để giải quyết.
Ngày 02 tháng 10 năm 2023, Ngân hàng TMCP Á đã giải chấp cho bà Nguyễn Thị N1 đối với tài sản thế chấp: Căn hộ A1.24.10 (tầng 24) Tòa nhà S đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1 nên Ngân
hàng TMCP Á không có ý kiến gì về tài sản thế chấp này, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nay, Ngân hàng TMCP Á yêu cầu Toà án giải quyết:
- Buộc bà Nguyễn Thị N1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á ngay sau khi Bản án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 19/9/2024: 5.986.595.288 đồng, cụ thể:
+ Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 2.100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 33.030.137 đồng; nợ lãi quá hạn: 197.194.520 đồng; lãi phạt chậm trả: 3.362.648 đồng. Tổng cộng: 2.333.587.305 đồng.
+ Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 3.063.460.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 67.027.860 đồng; nợ lãi quá hạn: 318.508.330 đồng; lãi phạt chậm trả: 6.683.959 đồng. Tổng cộng: 3.455.680.149 đồng.
+ Số nợ của thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 56.169.914 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 12.648.008 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 68.817.922 đồng.
+ Số nợ của thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 110.002.847 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 18.507.065 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 128.509.912 đồng.
Kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị N1 còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho A đề nghị Toà án tuyên Ngân hàng Á có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể:
- Quyền sử dụng 221,2 m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021.
- Quyền sử dụng 362 m² đất (có vị trí, mốc giới như kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2024) và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1.
Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là bà Nguyễn Thị N1. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á thì bà Nguyễn Thị N1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Theo bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn – bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị N1 thừa nhận khoản nợ nêu trên như đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á đã trình bày. Toàn bộ chữ ký, chữ viết trong tài liệu giấy tờ mà Ngân hàng cung cấp cho Tòa án là chữ ký, chữ viết của bà Nguyễn Thị N1. Bà Nguyễn Thị N1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của Ngân hàng TMCP Á. Bà Nguyễn Thị N1 không có tranh chấp gì đối với quyền sử dụng 221,2 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021. Bà Nguyễn Thị N1 đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ. Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng 362 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng thì theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ chiều dài diện tích đất giáp hộ bà Nguyễn Thị M là 27 m có vị trí từ mốc 3-4 là 9,6 m và từ mốc 4 đến 5 là 17,4 m, có sự khác nhau về hình thể so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị N1 đề nghị Toà án căn cứ vào hiện trạng đất theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ để giải quyết, đồng ý phát mại theo hiện trạng đất. Về chi phi tố tụng và án phí: Bà Nguyễn Thị N1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S – bà Trịnh Thị H1, cụ Bùi Thị C, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm trình bày, cụ thể:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/6/2024, bà Trịnh Thị H1 trình bày: Diện tích đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thôn
A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 01746 cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, vợ chồng bà đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 vào ngày 22/9/2021. Toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất giữ nguyên hiện trạng như khi thế chấp cho Ngân hàng và đang do vợ chồng bà trực tiếp quản lý và sử dụng. Chồng bà là ông Nguyễn Văn S bị tai nạn chết ngày 25/5/2024. Trên đất hiện còn có mẹ chồng bà là cụ Bùi Thị C, sinh năm 1944 và các con bà là cháu Nguyễn Minh C1, sinh ngày 13/3/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2, sinh ngày 11/9/2011 sinh sống nhưng không có công sức đóng góp gì trong việc tôn tạo đối với diện tích đất và tài sản trên đất. Bố chồng bà là cụ Nguyễn Văn Ư đã chết cách đây hơn 30 năm. Thửa đất này từ trước đến nay không có tranh chấp với ai (trừ tranh chấp với Ngân hàng trong vụ án này), ranh giới mốc giới được ngăn cách với cách hộ xung quanh bởi tường bao. Thửa đất này không có tranh chấp với các hộ giáp ranh, không lấn chiếm đất công, sử dụng ổn định từ trước ngày 18/12/1980. Nay Ngân hàng có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị N1 yêu cầu trả nợ, trường hợp bà Nguyễn Thị N1 không trả được nợ thì đề nghị phát mại tài sản là diện tích đất nêu trên thì bà không đồng ý phát mại.
Ngày 22/7/2024, Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận được đơn trình bày ý kiến của cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 (có tên trong đơn nhưng không ký phần cuối đơn) thể hiện: Do mối quan hệ cá nhân giữa ông Nguyễn Văn S với bà Nguyễn Thị N1 nên ông Nguyễn Văn S về đã bảo bà Trịnh Thị H1 cho bà N1 mượn đất và căn nhà ông S, bà H1 đang ở tại thửa 1033A, xóm A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng để bà N1 vay vốn Ngân hàng lấy tiền kinh doanh. Bà Trịnh Thị H1 không đồng ý và ông Nguyễn Văn S ép bà H1 ký cho bà N1 mượn trong tầm một năm đổ lại và bà N1 có hứa với vợ chồng bà như vậy. Việc vợ chồng bà H1 cho bà N1 mượn đất thì cụ Bùi Chị C3, cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 không được biết. Trong suốt quá trình cho bà N1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H1 có giục ông Nguyễn Văn S và giục bà Nguyễn Thị N1 trả đất cho gia đình bà nhưng bà N1 bảo chưa thu xếp được đủ trả ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay gia đình bà H1 mong Toà án xem xét, giúp đỡ vì gia đình bà H1 có một nơi ở duy nhất, ông Nguyễn Văn S đã chết.
Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về điều luật áp dụng: Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 116, 117, 118, 119, 274, 280, 299, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, buộc bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi trong hạn, số tiền nợ lãi quá hạn, số tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày xét xử và và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 20 tháng 9 năm 2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đề nghị phát mại tài thế chấp:
- Quyền sử dụng 221,2 m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A (nay thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021.
- Quyền sử dụng 362 m² đất (có vị trí, mốc giới như kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2024) và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1.
Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là bà Nguyễn Thị N1. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á thì bà Nguyễn Thị N1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về việc vắng mặt của đương sự: Toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S là cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 đều vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người ngày.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[2.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị N1 cung cấp cho Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh với tên hộ kinh doanh Nguyễn Thị N1 và theo Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1 thể hiện: Mục đích vay vốn: sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động. Tuy nhiên, theo Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021 giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1 thể hiện: Mục đích vay vốn: mua bán, đất không thuộc dự án – Nhà ở - Bên được cấp tín dụng mua nhà tại thửa 1033A An Thắng, A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Đối với các đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng ; đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A: Bà Nguyễn Thị N1 vay Ngân hàng TMCP Á thông qua hình thức phát hành và sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ và ứng tiền mặt; mục đích sử dụng tiêu dùng. Chính vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp dân sự.
[2.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là Nguyễn Thị N1 có nơi cư trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Xét các Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023, Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021, các Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng, Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1:
[3.1] Các hợp đồng tín dụng nêu trên đều được các bên thừa nhận ký kết tự nguyện, có nội dung, mục đích và hình thức phù hợp quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng và không trái đạo đức xã hội nên các hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhau theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
[3.2] Thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng Thương mại cổ phần Á đã giải ngân đủ số tiền vay là 5.200.000.000 đồng theo hình thức chuyển khoản cho bà
Nguyễn Thị N1 và phát hành phát tín dụng loại thẻ JCB vàng và thẻ tín dụng loại thẻ A cho bà Nguyễn Thị N1.
[3.3] Bà Nguyễn Thị N1 thừa nhận có ký các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Á như trên và đồng ý trả nợ cho Ngân hàng TMCP Á theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á.
[3.4] Bị đơn là bà Nguyễn Thị N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng do đó Ngân hàng Thương mại cổ phần Á yêu cầu bà Nguyễn Thị N1 phải trả số tiền còn nợ của các Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023, Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021, các Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng, Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1 là có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào các điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, buộc bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền nợ tính đến ngày 19/9/2024, cụ thể:
[3.4.1] Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 2.100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 33.030.137 đồng; nợ lãi quá hạn: 197.194.520 đồng; lãi phạt chậm trả: 3.362.648 đồng. Tổng cộng: 2.333.587.305 đồng.
[3.4.2] Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 3.063.460.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 67.027.860 đồng; nợ lãi quá hạn: 318.508.330 đồng; lãi phạt chậm trả: 6.683.959 đồng. Tổng cộng: 3.455.680.149 đồng.
[3.4.3] Số nợ của thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 56.169.914 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 12.648.008 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 68.817.922 đồng.
[3.4.5] Số nợ của thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 110.002.847 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 18.507.065 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 128.509.912 đồng.
[3.4.6] Tổng cộng cả bốn hợp đồng tín dụng nêu trên là 5.986.595.288 đồng, trong đó nợ gốc là: 5.329.632.761 đồng và nợ lãi trong hạn: 100.057.997 đồng, lãi quá hạn: 546.857.923 đồng, phạt chậm trả lãi là: 10.046.607 đồng.
[4] Xét các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NGQ.BĐCN.115.230921 ngày 23/9/2021 được công chứng theo số công chứng 819, quyển số
01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/9/2021 tại Văn phòng C4; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số NGQ.BĐCN.109.271021 ngày 27/10/2021 được công chứng theo số công chứng 1277, quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/10/2021 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Nhật Q được ký giữa chủ tài sản là bà Nguyễn Thị N1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
[4.1] Các Hợp đồng thế chấp nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp được đăng ký bảo đảm Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các điều 298, 319 của Bộ luật Dân sự và không trái đạo đức xã hội.
[4.2] Đối với tài sản thế chấp: Quyền sử dụng 221,2 m² đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021. Tài sản này hiện nay đang do cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 đang sinh sống và sử dụng.
[4.2.1] Tại lời khai ngày 27/6/2024, bà Trịnh Thị H1 thừa nhận vợ chồng bà đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 diện tích đất và tài sản trên diện tích đất. Ngày 22/7/2024, Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận được đơn trình bày ý kiến của cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 (có tên trong đơn nhưng không ký phần cuối đơn) thể hiện: Do mối quan hệ cá nhân giữa ông Nguyễn Văn S với bà Nguyễn Thị N1 nên ông Nguyễn Văn S về đã bảo bà Trịnh Thị H1 cho bà N1 mượn đất và căn nhà ông S, bà H1 đang ở tại thửa 1033A, xóm A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng để bà N1 vay vốn Ngân hàng lấy tiền kinh doanh. Bà Trịnh Thị H1 không đồng ý và ông Nguyễn Văn S ép bà H1 ký cho bà N1 mượn trong tầm một năm đổ lại và bà N1 có hứa với vợ chồng bà như vậy. Việc vợ chồng bà H1 cho bà N1 mượn đất thì cụ Bùi Chị C3, cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 không được biết. Trong suốt quá trình cho bà N1 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H1 có giục ông Nguyễn Văn S và giục bà Nguyễn Thị N1 trả đất cho gia đình bà nhưng bà N1 bảo chưa thu xếp được đủ trả ngân hàng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay gia đình bà H1 mong Toà án xem xét, giúp đỡ vì gia đình bà H1 có một nơi ở duy nhất, ông Nguyễn Văn S đã chết. Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã có Thông báo số 286/TB-TA ngày 22/7/2024 gửi cho cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm với nội dung: “Cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 có tài liệu chứng cứ chứng minh cho ý kiến của mình đã nêu không? Cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm có tranh chấp với bà Nguyễn Thị N1 liên quan đến quyền sử dụng 221,2 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021 không? Nếu có cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 có yêu cầu Toà án giải quyết không? Nếu có yêu cầu Toà án giải quyết, cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 phải thực hiện theo yêu cầu sau: Làm đơn yêu cầu độc lập đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị N1 về việc tranh chấp đối với quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại số A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo đúng quy định tại Điều 189, 202 Bộ luật Tố tụng dân sự”.
[4.2.2] Tuy nhiên, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ và không làm đơn yêu cầu độc lập theo yêu cầu của Toà án. Toàn bộ các buổi làm việc với Toà án theo Thông báo của Toà án cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 đều không có mặt. Bà Nguyễn Thị N1 xác định không có tranh chấp gì với cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm đối với diện tích thế chấp nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết tranh chấp giữa cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc Bảo C2 với bà Nguyễn Thị N1 liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021 trong vụ án này. Trường hợp sau này, cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm có tranh chấp đối với bà Nguyễn Thị N1 liên quan đến quyền sử dụng 221,2 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng thì được giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4.3] Đối với tài sản thế chấp: Quyền sử dụng 362 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 269507, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 00755 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/4/2020 cho bà Nguyễn Thị Thủy N2, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 12/10/2021. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ chiều dài diện tích đất giáp hộ bà Nguyễn Thị M là 27 m có vị trí từ mốc 3-4 là 9,6 m và từ mốc 4 đến 5 là 17,4 m, có sự khác nhau về hình thể so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Có sự khác nhau về hình thể giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ là do trước đây đo đạc thủ công, hiện nay đo bằng máy nên độ chính xác
cao hơn. Ngân hàng TMCP Á và bà Nguyễn Thị N1 đều đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đề nghị Toà án căn cứ vào hiện trạng đất theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ để phát mại tài sản thế chấp.
[4.4] Tại Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1 ngoài hai tài sản bảo đảm nêu trên tại mục 4.2. và mục 4.3 thì còn có tài sản bảo đảm là Căn hộ A1.24.10 (tầng 24) Toà nhà SHP P đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1. Tài sản này được thế chấp tài Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 430 quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng Công chứng Nguyễn Nhật Q, thành phố Hải Phòng công chứng ngày 12/8/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á và bà Nguyễn Thị N1 đều thừa nhận ngày 02 tháng 10 năm 2023, Ngân hàng TMCP Á đã giải chấp cho bà Nguyễn Thị N1 đối với tài sản thế chấp: Căn hộ A1.24.10 (tầng 24) Tòa nhà S đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị N1. Ngân hàng TMCP Á và bà Nguyễn Thị N1 đều không có tranh chấp gì đối với tài sản bảo đảm này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4.5] Các Hợp đồng thế chấp nêu trên được bảo đảm cho các Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023, Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021, giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1, các Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng, Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1. Mặt khác, bà Nguyễn Thị N1 đồng ý phát mại toàn bộ tài sản để đảm bảo cho cả 4 hợp đồng thế chấp nên cần được chấp nhận. Vì vậy trường hợp bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài thế chấp trên để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại các điều 299, 320, 323 của Bộ luật Dân sự.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 113.986.595 đồng (112.000.000 đồng + 0,1% x (5.986.595.288 đồng – 4.000.000.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí 56.796.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009919 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 20.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP Á đã nộp tạm ứng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên bà Nguyễn Thị N1 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 20.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 116, 117, 118, 119, 280, 298, 299, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á, buộc: Bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền nợ tính đến hết ngày 19 tháng 9 năm 2024 là:
+ Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 2.100.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 33.030.137 đồng; nợ lãi quá hạn: 197.194.520 đồng; lãi phạt chậm trả: 3.362.648 đồng. Tổng cộng: 2.333.587.305 đồng.
+ Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 3.063.460.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 67.027.860 đồng; nợ lãi quá hạn: 318.508.330 đồng; lãi phạt chậm trả: 6.683.959 đồng. Tổng cộng: 3.455.680.149 đồng.
+ Số nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 56.169.914 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 12.648.008 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 68.817.922 đồng.
+ Số nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1: Nợ gốc: 110.002.847 đồng; nợ lãi trong hạn: 0 đồng; nợ lãi quá hạn: 18.507.065 đồng; lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 128.509.912 đồng.
Tổng cộng cả bốn hợp đồng tín dụng nêu trên là 5.986.595.288 đồng, trong đó nợ gốc là: 5.329.632.761 đồng và nợ lãi trong hạn: 100.057.997 đồng, lãi quá hạn: 546.857.923 đồng, phạt chậm trả lãi là: 10.046.607 đồng.
Kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bà Nguyễn Thị N1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Á có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp:
- Quyền sử dụng 221,2 m² đất ở và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1033A, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn A (nay là thôn T), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 236501, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS 01746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn S và bà Trịnh Thị H1, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 22/9/2021.
- Quyền sử dụng đất ở diện tích theo hiện trạng đo thực tế là 362 m² có vị trí mốc giới từ 1-2-3-4-5-6-1 và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 01, địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 269507, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 00755 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/4/2020 cho bà Nguyễn Thị Thủy N2, cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N1 ngày 12/10/2021 diện tích đất thế chấp là 362 m²) (có sơ đồ kèm theo).
Để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.1974.260523 ngày 26/5/2023, Hợp đồng tín dụng số NGQ.CN.2119.200921 ngày 21/9/2021, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 29/7/2021, loại thẻ JCB vàng, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 10/8/2022, loại thẻ A giữa Ngân hàng TMCP Á với bà Nguyễn Thị N1.
Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là bà Nguyễn Thị N1. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á thì bà Nguyễn Thị N1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á.
2. Về án phí và chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị N1 phải chịu 113.986.595 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí 56.796.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0009919 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á 20.000.000 đồng tiền xem xét thẩm định tại chỗ.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Á và bị đơn là bà Nguyễn Thị N1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn S đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Bùi Thị C, bà Trịnh Thị H1, cháu Nguyễn Minh C1, cháu Nguyễn Ngọc B Châm vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sựs, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - TAND thành phố Hải Phòng;
- - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Vũ Thị Hằng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bùi Đình Hùng Doãn Văn Sáng | Vũ Thị Hằng |
Khi khoản vay theo đề nghị vay có tài sản bảo đảm được tất toán toàn bộ, Bên vay đồng thời thực hiện trả nợ trước thời hạn đối với toàn bộ dư nợ vay theo đề nghị vay không tài sản bảo đảm cùng thời điểm tất toán khoản vay theo đề nghị vay có tài sản bảo đảm
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Đức Cảnh | Bùi Thuý Mở | Nguyễn Thị Thu Hiền |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hiền
Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 54/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Á Châu + Nga
