|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 19 – 8 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Cường
- Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Hoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước và điểm cầu thành phần tại Công an huyện B, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Điểu K, sinh năm 2005; nơi sinh: Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: XTiêng; tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nam; con ông Điểu B và bà Thị P; bị cáo có 03 anh em, nhỏ nhất sinh năm 2010, bị cáo là con lớn nhất; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
- Họ và tên: Điểu L, sinh năm 2003 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: XTiêng; tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nam; con ông Điểu K1 và bà Thị H; bị cáo có 06 anh em, nhỏ nhất sinh năm 2021, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
- Họ và tên: Điểu P1, sinh năm 1999 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: XTiêng; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nam; con ông Điểu P2 và bà Thị H1; bị cáo có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2002, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 20/01/2024 cho đến nay.
- Người bào chữa cho các bị cáo Điểu K, Điểu L, Đ: Ông Đàm Văn Đ– Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B; địa chỉ: phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước;
- Người phiên dịch: Ông Điểu T, chức vụ: Chuyên viên đang công tác tại Phòng Dân tộc huyện B, tỉnh Bình Phước
- Người làm chứng: Anh Điểu C, sinh năm 2002
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 20/01/2024, Điểu K, Điểu P1 đến nhà Điều L ở thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước chơi. Tại đây, K rủ L và Phú góp mỗi người 100.000 đồng từ số tiền làm thuê do K đang cất giữ để mua ma túy về cùng sử dụng thì tất cả đồng ý. Sau đó, K lấy 300.000 đồng đưa cho Điểu K1 (cha của Điểu L) để đi mua ma túy, K1 cầm lấy tiền rồi điều khiển xe mô tô đi mua ma túy; còn K, L, P1 đi đến nhà Đ1 C ở gần đó để cùng nhau uống rượu. Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, K1 đi đến nhà C để nói cho K biết đã mua được ma túy, đồng thời nói K rủ tất cả mọi người về nhà K1 cùng nhau sử dụng ma túy. Sau đó, K, L, P1 và C cùng nhau đi đến nhà K1; tại đây, K1 đem bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra rồi bỏ ma tuý vào trong bộ dụng cụ và sử dụng bật lửa đốt cháy ma túy để cùng nhau sử dụng, sau đó lần lượt K1, K, L, P1 và C cùng nhau sử dụng ma túy. Ngay lúc này cơ quan Công an đang làm nhiệm vụ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, K, P1 và C đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, còn K1 cầm theo bật lửa, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bỏ chạy khỏi hiện trường (BL; 99,100).
Cùng ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B kết hợp cùng Trung tâm y tế xã Đ dùng que thử test nhanh ma túy đối với Điểu K, Điểu L, Điểu P1 và Điểu C; kết quả K, L, P1 và C đều dương tính với ma tuý (BL: 102->104)
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSBGM ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Điểu K1, hiện nay đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với Điểu C, chỉ là người sử dụng trái phép chất ma túy; C không thực hiện các hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm và đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, do đó hành vi của C không đồng phạm với các bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C nên không đề nghị xử lý.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Điểu K từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo Điểu P1 và Điểu L mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Về các vấn đề khác: Đề nghị tuyên xử theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 phát biểu: Thống nhất với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố đối với các bị cáo.
Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; trình độ văn hóa thấp mù chữ, không được học hành nên nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; đề nghị xử phạt bị cáo Điểu K 07 năm 6 tháng tù; Điểu P1 07 năm tù; Điểu L 07 năm tù.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với xã hội, làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên ngày 20/01/2024, Điểu K rủ Điểu P1 và Điểu L mỗi người góp 100.000 đồng để đi mua ma túy đem về cùng nhau sử dụng thì tất cả đồng ý. Sau đó, Đ1 K lấy 300.000 đồng đưa cho Điểu K1 để đi mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, K1 đem về nhà mình ở thôn A, xã Đ, huyện B rồi cùng Điểu P1, Điểu L và Điểu C cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy; trong lúc khi đang sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, còn Điểu K1 cầm theo bật lửa, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bỏ chạy khỏi hiện trường. Kết quả test nhanh ma túy đối với Điểu K, Điểu L, Điểu P1 và Điểu C đều dương tính với ma tuý”. Hành vi của các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là bị pháp luật cấm, thấy trước được những tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng với mong muốn đưa được chất ma túy vào cơ thể mình và người khác một cách trái phép nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm
phạm trật tự trị an xã hội, gây thiệt hại đến sức khỏe của chính những người sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời là nguyên nhân dẫn đến những hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng cho người dân tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của các bị cáo gây ra.
Xét vai trò của từng bị cáo, thấy: Bị cáo Điểu K là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, góp tiền và rủ rê người khác; các bị cáo Điểu L và Điểu P1 không phải là người khởi xướng nhưng tích cực cùng với Điểu K tổ chức sử dụng chất ma túy, góp tiền để mua ma túy. Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn nên xét áp dụng mức án đối với các bị cáo là ngang bằng nhau.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đều chưa có tiền án tiền sự, là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Đối với Điểu K1, hiện nay đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và ra quyết định truy nã, do đó, sẽ xem xét xử lý sau khi bắt được Điểu K1.
[7] Đối với Điểu C, chỉ là người sử dụng trái phép chất ma túy; C không thực hiện các hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm và đưa chất ma túy vào cơ thể người khác, do đó hành vi của C không đồng phạm với các bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Điểu C nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[8] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9]. Quan điểm của người bào chữa tại phiên toà: là phù hợp nên được chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Điểu K, Điểu L và Điểu P1 đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Điểu K, Điểu L, Điểu P1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đ1 Khương 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/01/2024.
Xử phạt bị cáo Điểu L 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/01/2024.
Xử phạt bị cáo Điểu P1 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20/01/2024.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Các bị cáo Điểu K, Điểu L, Điểu P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/8/2024).
Nơi nhận:
- - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
- - VKSND huyện Bù Gia Mập;
- - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
- - Công an huyện Bù Gia Mập;
- - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
- - Các Bị cáo;
- - Người tham gia tố tụng khác;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ TUYẾT |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Điểu Khương + Đp
