Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

TỈNH HƯNG YÊN


Bản án số: 54/2023/HS-ST

Ngày: 18/10/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hệ.
  2. Ông Vũ Văn Xuyên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Ngọc Nam, thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2023 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/HSST - QĐ ngày tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Văn D, sinh năm 1980; HKTT: Xóm A, thôn N, xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; con ông Vũ Xuân M và bà Lê Thị N; có vợ là Phạm Thị X và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2010; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 25/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/11/2020. Ngày 07/8/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, xử phạt 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày 15/9/2022.

Nhân thân: Ngày 07/12/2018, bị Công an xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 07/12/2018, bị Công an xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 07/12/2018, bị Công an thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H “có mặt”.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Vũ Xuân M, sinh năm 1949; HKTT: Xóm A, thôn N, xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

*Người làm chứng: Anh Lều Trọng H, sinh năm 1988. Trú tại: A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1971. Trú tại: LK01LK10 dịch vụ C, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 20 phút ngày 04/7/2023, tại khu vực ngã ba đường Đ giao với Quốc lộ C, thuộc đội A, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tổ công tác Công an xã L, thành phố H, bắt quả tang Vũ Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vũ Văn D tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất màu trắng, dạng cục và bột. D khai nhận chất rắn màu trắng dạng cục và bột là ma túy, loại Heroine, mục đích cất giấu để tìm nơi sử dụng. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất màu trắng, dạng cục và bột; 01 xe mô tô, nhãn hiệu CPI, bên ngoài có dòng chữ Boss Super delux, BKS: 33K3-1916.

Quá trình điều tra Vũ Văn D khai nhận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, D điều khiển xe mô tô BKS: 33K3-1916 từ nhà đến thành phố H, với mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường L, thuộc phường H, thành phố H thì gặp một nam thanh niên, giống người nghiện (không biết tên, tuổi, địa chỉ), D lại gần hỏi thì biết người này lấy được ma túy, nên D nhờ lấy hộ 150.000 đồng H2, người đàn ông đồng ý và điều khiển xe mô tô đi, khoảng 10 phút sau thì quay lại. D đưa 150.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho D 01 gói giấy bạc màu trắng, D mở ra xem thấy bên trong có 01 gói giấy màu trắng, chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Do là người nghiện ma túy nên D biết đây là ma túy, loại Heroine. D cầm gói ma túy trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang.

Ngày 04/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn D nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 413/KL-KTHS(MT) ngày 07/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H. kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là 0,254g, là ma tuý, loại Heroine. H3 lại trong một niêm phong ghi số 413/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,214g (Không phẩy hai một bốn gam) ma túy, loại H2; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định .

Đối với xe mô tô, nhãn hiệu nhãn hiệu CPI, BKS 33K3-1916, đăng ký mang tên Vũ Văn H1, sinh năm 1971, trú tại V, quận H, thành phố Hà Nội. Do không có nhu cầu sử dụng nên năm 2013 anh H1 đã cho chú ruột là ông Vũ Xuân M là bố của D. Sáng ngày 04/7/2023, ông M cho D mượn để đi chợ và không biết D sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với anh H1, ông M.

Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Vũ Văn D. D khai là lần đầu tiên mua nên không biết tên tuổi, địa chỉ. Việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến nên không có căn cứ để xác minh, xử lý .

Tại bản cáo trạng số 52/QĐ-VKS-HS ngày 29/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý với cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình. Ông M đề nghị xem xét được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn, hiệu nhãn hiệu CPI, BKS 33K3 -1916 do ông M không biết việc bị cáo lấy xe mô tô làm phương tiện mua ma túy để sử dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo theo bản cáo trạng, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Vũ Văn D từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ 0,214g (Không phẩy hai một bốn gam) ma túy, loại H2; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; Trả lại cho ông Vũ Xuân M 01 xe mô tô, nhãn hiệu CPI, biển kiểm soát 33K3-1916 hiện đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng Công an thành phố H. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1].Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục như ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 36 - 37); Bản kiểm điểm, bản tường trình và Biên bản ghi lời khai của bị cáo (BL 42 - 56); Bản Kết luận giám định số 423/KL-KTHS(MT) ngày 07/7/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H (BL 20), cùng với các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 04/7/2023, tại khu vực ngã ba đường Đ giao với Quốc lộ C, thuộc đội A, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vũ Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,254g Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Trước đó, ngày 07/8/2021, tại bản án số 48/2021/HS-ST, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương đã xử phạt bị cáo D mức án 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 15/9/2022. Tại bản án số 48/2021/HS-ST đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 và điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xác định lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tôi do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo D với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4]. Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ được việc sử dụng chất ma túy có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị kết án về hành vi trộm cắp và tàng trữ trái pháp chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học khác mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để trừng trị, cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5]. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ 0,214g (Không phẩy hai một bốn gam) ma túy, loại H2; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật do cơ quan giám định hoàn mẫu. Trả lại cho ông Vũ Xuân M 01 xe mô tô, nhãn hiệu CPI, biển kiểm soát 33K3-1916.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ:

    Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  2. Về tội danh:

    Tuyên bố Bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2023.
  4. Biện pháp tư pháp: điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ 0,214g (Không phẩy hai một bốn gam) ma túy, loại H2; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định;

    Trả lại cho ông Vũ Xuân M, sinh năm 1949; HKTT: Xóm A, thôn N, xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên: 01 xe mô tô, nhãn hiệu CPI, biển kiểm soát 33K3-1916.

    (Chi tiết, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ - VKS ngày 29/9/2023 của VKSND thành phố Hưng Yên).

  5. Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo Vũ Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận

  • - Phòng NV, KT& THA, TAND tỉnh HY;
  • - VKSND tỉnh HY.
  • - VKSND TP.Hưng Yên;
  • - Công an TP.Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS TP.Hưng Yên;
  • - Bị cáo
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Đào Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger