Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

----------

Bản án số: 54/2024/HS -ST

Ngày: 18 - 06 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Khắc Tuấn
  • Ông Phương Văn Quang
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lương Ngọc Thắng, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Nơi ĐKHKTT: Số H Chùa T, phường S, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết); Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1945; Vợ: Nguyễn Lan P (đã chết); Con: Có 01 con sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Năm 1991 bị Công an thị xã S bắt về hành vi Trộm cắp tài sản
  • + Năm 1999, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 21 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản.
  • + Ngày 27/08/2001, bị Tòa án quân sự quân khu thủ đô xử phạt 15 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa.
  • + Ngày 25/9/2001, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
  • + Năm 2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 30 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản
  • + Năm 2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 07 năm tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy
  • + Năm 2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt 15 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản
  • + Ngày 13/5/2015, bị Công an thị xã S phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an T1; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, đi bộ từ nhà đến khu vực Bến xe thị xã S thuộc phường Q, thị xã S, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý Heroine về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người nam giới lạ mặt qua nói chuyện T biết người này có bán ma túy nên đã hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Người đàn ông này đồng ý bán cho T 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. T cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải, rồi đi bộ về nhà để sử dụng. Khi đi đến trước cửa số nhà A, phố C, phường S, thị xã S thì gặp tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã S. Thấy T có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác kiểm tra hành chính, phát hiện trên tay phải của Nguyễn Văn T cầm 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng. T khai nhận đây là gói ma túy H vừa mua được với mục đích để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu giữ :

  • - Thu trên tay phải Nguyễn Văn T 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng.

Ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an thành phố T1 giám định đối với 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng đã thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố T1, kết luận “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,110 gam”.

Đối với người nam giới đã bán cho Nguyễn Văn T gói ma túy tại khu vực Bến xe thị xã S thuộc phường Q, thị xã S, do T mới gặp và hỏi mua ma tuý lần đầu nên không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không xác định được nên không có cơ sở xác minh làm rõ.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng phòng K Công an thành phố T1, bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn T, chữ ký của đồng chí Nguyễn Đức C1, cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã S; chữ ký của đồng chí Trương Trọng V - giám định viên phòng K Công an thành phố T1.

Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 09/04/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố T1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Công an thị xã S đã truy tố. Mặt khác, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng các vật chứng đã được Cơ quan điều tra thu giữ, Kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an thành phố T1. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn T có hành vi mua, tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroin có khối lượng 0,110 gam, nhằm mục đích để sử dụng cá nhân, bị Công an thị xã S bắt quả tang tại trước cửa số nhà A, phố C, phường S, thị xã S.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T, đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Ma túy, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn làm ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối bản thân, gia đình và xã hội nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội Trộm cắp tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét:

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Sau khi xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[5] Về nguồn gốc số ma tuý: Nguyễn Văn T khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tên tuổi, địa chỉ ở bến xe S. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ, tài liệu để xác định người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng phòng K Công an thành phố T1. Xét đây là vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T và là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/01/2024.
  3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố T1 trả lại sau giám định. (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - CA, VKSND thị xã S;
  • - CCTHADS thị xã S;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đặng Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS -ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 54/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bc T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger