|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 18-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thượng
Ông Nguyễn Dũng Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Hoàng A, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 13/02/2019, bị Công an xã T, huyện T xử phạt 375.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt ngày 14/3/2019; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/02/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu câu sử dụng ma túy nên Đoàn Hoàng A liên hệ với một người thanh niên (không rõ họ tên, sống chung như vợ chồng với chị Võ Thị Ngọc Ả, sinh năm 2004) để nhờ mua ma túy. Ngày 28/01/2024, Hoàng A khai nhận đã đưa số tiền 5.000.000 đồng cho ông Võ Văn B, sinh năm 1973, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (là cha ruột của Ảnh) để nhờ ông B chuyển khoản cho người thanh niên sống cùng Ảnh. Ngày 29/01/2024, Đoàn Hoàng A hỏi mượn xe của anh Lê Văn M (Quậy), sinh năm 2002; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhưng anh M không có xe nên anh M đã hỏi mượn xe mô tô biển số 70K1-766.16 của anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để đưa cho Đoàn Hoàng A1. Khoảng 10 giờ ngày 29/01/2024, Đoàn Hoàng A1 điều khiển xe mô tô biển số 70K1-766.16 đến khu vực “Sân bay Thiện Ngôn” thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để gặp người thanh niên bán ma túy. Tại đây, người thanh niên giao cho Đoàn Hoàng A1 01 bịch nylon bên trong chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, Đoàn Hoàng A1 kiểm tra thấy số lượng ít hơn so với số tiền mua nên Đoàn Hoàng A1 không mua, yêu cầu người thanh niên trả lại tiền đã chuyển trước đó. Người thanh niên đồng ý và kêu Hoàng A1 giữ số ma túy đó cùng đi đến khu vực ngã 3 “Vạc Sa” thuộc xã T, huyện T sẽ trả tiền và nhận lại ma túy. Khi đến ngã 3 “Vạc Sa”, Hoàng A1 vào quán cà phê thuộc tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ngồi chờ người thanh niên đến. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Hoàng A1 khi đang ngồi uống nước tại quán cà phê thì bị lực lượng Đồn Biên phòng T, Bộ đội Biên phòng tỉnh T đến kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng.
Kết luận giám định số 232/KL- KTHS, ngày 30/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M) bên trong 01 bịch nylon màu trắng gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,2399 gam.
Tài liệu, đồ vật thu giữ:
- 01 bì thư niêm phong ghi số 232, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Thị Thùy D và được đóng dấu tròn màu đỏ của
3
Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,0594 gam;
- 01 xe mô tô hiệu Sirius RC, màu cam đen, biển số 70K1-766.16, số khung: RLCUE4120-NY011327, số máy: E34CE-047835;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, số máy MKQM2ZD/A, số Seri: F4GQCB47GRY8.
Bản Cáo trạng số 48/CT-VKSTC ngày 10 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Đoàn Hoàng A1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Quan điểm của Viện kiểm sát: đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng A1 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, trong phần luận tội, Đại diện Viện kiểm sát xác định hành vi của anh Lê Văn M (Quậy) và anh Nguyễn Văn H do không biết bị cáo mượn xe để sử dụng đi mua ma túy nên không xem xét xử lý.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
4
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định ngày 29/01/2024, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đoàn Hoàng A1 có hành vi cất giấu trái phép 2,2399 gam chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với khung hình phạt đề nghị từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Sử dụng ma túy trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân bị cáo, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 bì thư niêm phong ghi số 232, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Thị Thùy D và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,0594 gam là vật chứng cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Sirius RC, màu cam đen, biển số 70K1-766.16, số khung: RLCUE4120-NY011327, số máy: E34CE-047835 là tài sản của anh
5
Nguyễn Văn H cho bị cáo mượn, nhưng bị cáo đã sử dụng trái phép mà anh H không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh Nguyễn Văn H;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, só máy MKQM2ZD/A, số Seri: F4GQCB47GRY8 là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Đoàn Hoàng A1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[8] Đối với người thanh niên bán trái phép chất ma túy cho bị cáo do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
[9] Đối với ông Võ Văn B do không biết việc chuyển tiền để mua ma túy nên không xem xét xử lý.
[10] Đối với Võ Thị Ngọc Ả hiện nay không có ở địa phương, không biết Ảnh đang ở đâu nên chưa làm việc được, khi nào làm rõ xử lý sau.
[11] Đối với anh Nguyễn Văn M1 (Quậy) và Nguyễn Văn H do không biết bị cáo mượn xe để sử dụng đi mua ma túy nên không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoàng A1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đoàn Hoàng A1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ghi số 232, có chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Nguyễn Thị Thùy D và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,0594 gam;
6
Trả lại cho anh Nguyễn Văn H 01 xe mô tô hiệu Sirius RC, màu cam đen, biển số 70K1-766.16, số khung: RLCUE4120-NY011327, số máy: E34CE-047835;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, só máy MKQM2ZD/A, số Seri: F4GQCB47GRY8.
3. Về án phí: bị cáo Đoàn Hoàng A1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thúy Liễu |
7
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
