|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 17-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Nguyễn Văn Tạo;
- + Ông Biền Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẫn – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Phạm Xuân H, sinh ngày: 14/10/1995 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: không nghề; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Võ Thị K; tiền án: không; tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 06/8/2019 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (được coi là chưa bị xử phạt hành chính). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Thị H1, sinh ngày 06/9/1989, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; học vấn: 05/12; nghề nghiệp: không nghề; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Võ Thị K; chồng là Lý Công B và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Ngày 21/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xử 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích); tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 02/8/2022 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về tội “Trộm cắp tài sản” (được coi là chưa bị xử phạt hành chính). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 30/8/2023. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Anh Bùi Đức V, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Chị Đồng Thị H3, sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Cháu Lý H4, sinh ngày 21/02/2008; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (của cháu Lý H4): Anh Lý Công B, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, (bị ốm xin xét xử vắng mặt).
- + Chị Đặng Thị H5, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1956; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 26/8/2023, Phạm Xuân H rủ Lý H4 là cháu ruột của H đến bãi neo đậu thuyền tại xã C để trộm cắp tài sản. Cả hai cùng đi bộ từ nhà đến bờ sông tại xã C và sử dụng thuyền thúng chèo ra nơi neo đậu thuyền thuộc thôn T, xã C. Cả hai trèo lên thuyền gần nhất không tìm được tài sản cần trộm nên H đã lấy chiếc mỏ lết bằng kim loại và bỏ đi thuyền khác. H và H4 cùng trèo lên thuyền mang số hiệu QB 933.53TS của anh Bùi Đức V. H dùng mỏ lết phá cửa khoang tàu, sau đó vứt khóa và mỏ lết xuống sông và chui vào khoang C1. H4 ở trong khoang Cabin canh giới, còn H chui vào khoang máy nhìn thấy số lượng chì nhiều được đựng trong 03 xô nhựa màu trắng, 01 vỏ chai màu xanh, 01 gàu nhựa màu xanh và nhiều vòng chì khoanh ở bên ngoài; H gom số chì trên bỏ vào xô nhựa, chai và gàu cho H4 tập kết đuôi tàu. Khi lấy được chì ra thì H4 xuống thùng còn H đưa chì chuyển xuống cho H4 bỏ vào thuyền thúng. Sau đó cả hai chèo thuyền thúng về qua Cầu Đ và cất số chì trộm được ở một cống tại đất đỏ xóm mới, thuộc S, thôn D, xã Q. Đến 06 giờ sáng hôm sau thì H thông báo cho Phạm Thị H1 là chị gái của H nơi cất giấu chì trộm cắp để H1 đem đi tiêu thụ nhưng chưa kịp tiêu thụ đã bị phát hiện và triệu tập làm việc.
Ngày 30/8/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá giá trị tài sản bị trộm cắp nói trên là 9.216.900 đồng.
Ngoài vụ trộm cắp tài sản trên thì Phạm Xuân H, Lý H4 và Phạm Thị H1 còn tham gia trộm cắp tài sản 03 vụ cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 02/8/2023, Phạm Xuân H rủ Lý H4 đến chợ C2 để trộm cắp tài sản, cả hai đi bộ đến vùng đất đỏ thuộc thôn D, xã Q lấy thuyền thúng buộc ở kênh và bơi dọc bờ sông vòng xuống chợ C2, khi đi vào trong chợ thì H thấy quầy tạp hóa của chị Nguyễn Thị H2, được khóa lại nhưng không có ai trông coi. H dùng kìm phá khóa, đi vào trong quầy, mở tủ đông ra phát hiện 14 kg mục khô, H lấy số mực trên, đi ra ngoài và chèo thuyền thúng về lại cầu Đ, H4 gọi cho H1 ra chở mực về để cất dấu. Đến 16 giờ ngày 03/8/2023, H1 đem bán cho chị Đặng Thị H5 04 kg mực khô với giá 4.000.000 đồng. Trưa ngày hôm sau H1 tiếp tục bán cho chị H5 hai lần mỗi lần 0,5 kg với tổng số tiền 850.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 05/8/2023 H1 đem 3,7 kg mục khô đến bán cho chị Nguyễn Thị C với số tiền 3.100.000 đồng. Số tiền bán được H1 đưa hết cho H. H cho H4 và H1 mỗi người 300.000 đồng, số tiền còn lại H đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 30/8/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá giá trị tài sản bị trộm cắp nói trên là 14.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào 23 giờ ngày 12/8/2023, Phạm Xuân H rủ Lý H4 đi bộ từ nhà đến biển C để trộm cắp tài sản trên tàu. Khi đến thôn T, xã C, thấy có thuyền thúng đang neo đậu, H và H4 lấy thúng chèo ra tàu mang số hiệu QB93342TS của chị Đồng Thị H3. Khi gần tàu thì H4 buộc dây vào thân tàu, H trèo lên theo ống khói trước rồi H4 trèo theo sau. H4 đứng cuối đuôi tàu cảnh giới còn H thấy cạnh ống khói không khóa nên mở cửa chui vào trong Cabin. Khi vào trong thì phát hiện đèn pin nên H đã lấy để soi và tìm kiếm tài sản thì thấy 05 xô nhựa bỏ các vị trí khác nhau trên Cabin, bên trong chứa các chì câu có kích thước bằng bàn tay. H gom đổ vào 03 thùng và vận chuyển ra ngoài, sau đó H lấy 01 bếp ga màu đen, 02 cây thuốc Fasol, 01 thùng bò húc Redbull, 03 thùng Superhose, 01 thùng bia Huda, 01 can rượu 05 lít và 02 bao gạo mỗi bao 10 kg. H đưa tập kết các tài sản trộm được ra ngoài, cũng như các lần trước H4 xuống thúng trước, H chuyển tài sản trộm được cho H4 bỏ vào thúng. Sau khi đưa hết tài sản lên bờ, H và H4 chèo thuyền thúng đi dọc theo bờ biển đến bờ biển gần nghĩa địa ở thôn T, xã C và cất tài sản trộm được trong các bụi dứa. Đến khoảng 07 giờ ngày 13/8/2023, H đến nhà H1 nói H1 đưa tài sản trộm cắp đem đi bán thì H1 đồng ý. H4 dẫn H1 đến vị trí cất giấu tài sản. Khi đến nơi H1 nhặt 01 bao lác gần đó, gom toàn bộ chì đến bán cho tiệm phế liệu Nguyễn Thị V1, cân lên được 77 kg bán với giá 2.300.000 đồng. H4 đưa cho H 1.800.000 đồng. Đến 15giờ cùng ngày, H1 và H4 đến lấy 02 bao gạo và 02 cây thuốc lá về sử dụng, để lại bếp ga và lấy 04 thùng nước ngọt và 01 can rượu về bán cho quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị V2 với giá 800.000 đồng. Số tiền sau khi bán được H4 đưa cho H 2.600.000 đồng, số tiền còn lại H4 và H1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 30/8/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá giá trị tài sản trộm cắp nói trên là 5.764.350 đồng
Vụ thứ ba: Vào khoảng 23 giờ ngày 16/8/2023, H và H4 đi bộ từ nhà theo đường nghĩa trang liệt sỹ gần bãi biển C. Thấy thuyền thúng đang neo đậu gần quán song H4, H chèo thuyền thùng chở H4 tiếp cận thuyền mang số hiệu QB 93181TS của chị Nguyễn Thị P. H và H4 cùng lên thuyền, H mở cửa chui vào trong thuyền còn H4 đứng ngoài cảnh giới. Khi vào trong H dùng đèn pin soi tìm tài sản và phát hiện xô nhựa bên trong chứa chì đặt gần bếp, tiếp tục soi phát hiện 03 xô chì đặt gần sạp ngủ, 01 xô ở góc cabin, 01 xô ở khu vực điều khiển, 01 thùng bia Huda. H gom vào 05 xô nhựa vào đưa ra ngoài theo hướng đã đột nhập trước, H4 xuống thúng trước, H ở trên thuyền chuyển tài sản xuống thúng cho H4, sau đó chèo thuyền thúng dọc sông về qua cầu C đến gần quán Bar A; khi đến xóm S, thôn D, xã Q thì H và H4 đem số chì trên vào cất ở cống. Đến 07 giờ ngày 17/8/2023, H sang nhà H1 đưa tài sản trộm cắp đi bán. Đến 12 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe chở H4 đến vị trí cất giấu chì. H4 gom 03 xô chì vào bao lác màu xanh và cùng chạy đến tiệm phế liệu của bà Nguyễn Thị V1 tại xã Q bán 105 kg với giá 3.100.000 đồng, sau đó tiếp tục quay lại lấy 02 xô chì đổ vào bao lác và chạy đến tiệm phế liệu bán cho bà V1 70 kg chì với giá 2.100.000 đồng. Tổng chì của hai lần trên là 175 kg. Sau đó H1 và H4 quay lại chỗ cũ để lấy bia để đi bán nhưng không thấy. Số tiền bán được H4 đưa cho H 4.000.000 đồng, số tiền còn lại H1 và H4 tiêu xài cá nhân hết, ngoài ra H còn cho H4 và H1 mỗi người 500.000 đồng, số tiền đó các đối tượng đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 30/8/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q định giá giá trị tài sản trộm cắp nói trên là 8.406.250 đồng.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh thu giữ, tạm giữ và trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng gồm: 198kg chì, đã qua sử dụng; 03 thùng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng (thùng đựng chì); 01 can nhựa màu xanh, bị cắt ở phần nắp chai, đã qua sử dụng (can đựng chì); 01 cái gàu được làm bằng can nhựa cắt nửa, đã qua sử dụng (gàu đựng chì); 01 Thùng nước ngọt bò húc nhãn hiệu RedBull, loại 24 lon, chưa sử dụng; 03 Thùng nước ngọt nhãn hiệu Super Horse, loại 24 lon, chưa sử dụng; 01 thùng bia Huda, loại 24 lon, chưa sử dụng; 41 con mực đã phơi khô, khối lượng 2,4kg; 01 Bếp ga, nhãn hiệu Mario, chưa sử dụng.
Chuyển các vật chứng của vụ án theo hồ sơ vụ án để phục vụ công tác truy tố, xét xử gồm: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu đỏ đen, BKS: 73N9: 9681, số khung: 077984, số máy: 077981, xe đã qua sử dụng, phần dè chắn bùn phía trước bị vỡ một phần, thân xe có nhiều vết trầy xước.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/9/2023, bị cáo Phạm Thị H1 đã đại diện cho bị cáo Phạm Xuân H, cháu Lý H4 để thỏa thuận bồi thường thiệt hại với các bị hại, theo đó:
Thỏa thuận bồi thường thiệt hại tài sản trong vụ Trộm cắp tài sản của tàu cá chị Đồng Thị H3 vào ngày 12/8/2023, tại thôn T, xã C, huyện Q: Chị Đồng Thị H3 yêu cầu phía các bị cáo và đối tượng bồi thường số tiền 4.700.000 đồng.
Thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong vụ Trộm cắp tài sản tại quầy tạp hóa của chị Nguyễn Thị H2 ở chợ C2, thuộc thôn T, xã C, huyện Q vào ngày 02/8/2023: Chị Nguyễn Thị H2 yêu cầu phía các bị cáo và đối tượng bồi thường số tiền 12.700.000 đồng.
Thoản thuận bồi thường thiệt hại trong vụ Trộm cắp tài sản xảy ra tại tàu cá của chị Nguyễn Thị P ở thôn Y, xã C, huyện Q vào ngày 16/8/2023: Chị P yêu cầu phía các bị cáo và đối tượng bồi thường thiệt hại số tiền 9.000.000 đồng.
Thoản thuận bồi thường thiệt hại trong vụ Trộm cắp tài sản tại tàu cá của anh Bùi Đức V ở thôn T, xã C, huyện Q vào ngày 26/8/2023: Anh Bùi Đức V trình bày bản thân đã nhận lại đủ tài sản mà các bị can trộm cắp, không bị hư hỏng, thiệt hại nên không yêu cầu các bị cáo và đối tượng phải bồi thường.
Phạm Thị H1 đồng ý với yêu cầu bồi thường của các chị Đồng Thị H3, Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Thị P. Tuy nhiên, hiện tại các bị cáo H1, H và cháu Lý H4 chưa bồi thường theo thỏa thuận nói trên.
Tại Cáo trạng số: 53/CT-VKSQT ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Xuân H từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Hiền t 15 tháng đến 18 tháng tù; về trách nhiệm dân sự: buộc các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 và người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các bị hại như đã thỏa thuận; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu đỏ đen, BKS: 73N9: 9681, số khung: 077984, số máy: 077981, xe đã qua sử dụng; về án phí: buộc các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 đồng ý với Bản luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng và các nội dung khác liên quan đến vụ án.
Nói lời sau cùng, bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình: Trong tháng 8 năm 2023, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các bị hại, các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại trên địa bàn xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự là 37.387.500 đồng. Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: các bị cáo Phạm Xuân H và Phạm Thị H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi bị cáo đã thực hiện không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng để nhanh chóng có tiền tiêu xài, phục vụ nhu cầu cá nhân của mình mà các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Trong vụ án này, có nhiều bị cáo tham gia thực hiện trộm cắp tài sản tuy nhiên tích chất đồng phạm giữa các bị cáo mang tính giản đơn. Trong đó bị cáo H là người thực hành, bị cáo H1 với vai trò là người giúp sức, đưa tài sản trộm cắp mà có đi tiêu thụ. Các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 đều thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Phạm Thị H1, ngày 21/02/2023, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội mới, bị cáo H1 chưa chấp hành xong hình phạt của bản án trên do đó, cần thiết áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã tự giác khai ra các lần phạm tội trước đó khi chưa bị phát hiện. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Liên quan trong vụ án, hành vi của cháu Lý H4, trực tiếp tham gia trộm cắp tài sản cùng bị cáo H có dấu hiệu phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gần nhất, Lý H4 mới đủ 15 tuổi 06 tháng 05 ngày; tội phạm mà đối tượng thực hiện thuộc loại ít nghiêm trọng. Do đó, căn cứ Điều 9, khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự, xác định Lý H4 không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên.
Đối với những người đã mua tài sản trộm cắp do bị cáo Phạm Thị H1 và cháu Lý H4 mang đến bán gồm: Chị Đặng Thị H5, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị V1 và chị Nguyễn Thị V2. Tuy nhiên những người mua tài sản trên không biết hoặc hứa hẹn tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, chị H5, chị C, chị V1, chị V2 không đồng phạm với các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 về tội “Trộm cắp tài sản” và không phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Buộc các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 và người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 phải liên đới bồi thường cho các bị hại, cụ thể: Chị Đồng Thị H3 số tiền 4.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H2 số tiền 12.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị P số tiền 9.000.000 đồng. Riêng đối với bị hại anh Bùi Đức V, anh H xác định đã nhận lại đủ các tài sản bị trộm cắp, không bị hư hỏng, thiệt hại và không yêu cầu các bị cáo và đối tượng phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của cháu Lý H4 theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 thì do cháu H4 không có tài sản riêng nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự do người đại diện hợp pháp (cha hoặc mẹ) thực hiện nghĩa vụ bồi thường thay.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà Nước vật chứng theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Xuân H và Phạm Thị H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Phạm Xuân H bị tạm giữ, tạm giam là ngày 27/8/2023.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, tiết 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Thị H1 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Phạm Thị H1 đi thi hành án.
Tuyên bố tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Xuân H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quyết định của Hội đồng xét xử.
- Về trách nhiệm bồi thường trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015: Buộc các bị cáo Phạm Xuân H, Phạm Thị H1 và người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 (anh Lý Công B) phải liên đới bồi thường cho các bị hại, cụ thể:
- - Bồi thường cho bị hại chị Đồng Thị H3 với tổng số tiền 4.700.000 (bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), theo đó: bị cáo Phạm Xuân H phải bồi thường cho chị H3 là 1.567.000 đồng; bị cáo Phạm Thị H1 phải bồi thường cho chị H3 là 1.567.000 đồng; người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 là anh Lý Công B phải bồi thường cho chị H3 là 1.567.000 đồng.
- - Bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị H2 số tiền 12.700.000 (mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng), theo đó: bị cáo Phạm Xuân H phải bồi thường cho chị H2 là 4.167.000 đồng; bị cáo Phạm Thị H1 phải bồi thường cho chị H2 là 4.167.000 đồng; người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 là anh Lý Công B phải bồi thường cho chị H2 là 4.167.000 đồng.
- - Bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị P số tiền 9.000.000 (chín triệu đồng), theo đó: bị cáo Phạm Xuân H phải bồi thường cho chị P là 3.000.000 đồng; bị cáo Phạm Thị H1 phải bồi thường cho chị P là 3.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của cháu Lý H4 là anh Lý Công B phải bồi thường cho chị P là 3.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Taurus, màu sơn đỏ đen; BKS: 73N9-9681; số khung: 077984, số máy: 077981, xe đã qua sử dụng; phần dè chắn bùn phía trước bị vỡ một phần, thân xe có nhiều vết trầy xước.
- Vật chứng trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Về án phí sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân H6, Phạm Thị H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà Nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/11/2023 (đối với những người có mặt tại phiên tòa) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật (đối với những người có mặt tại phiên tòa).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Anh Tuấn |
Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Xuân H và đồng phạm bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản"
