Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Quốc Tiến;

2. Bà Nguyễn Thị Phượng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) gồm Hội đồng xét xử, Thư ký, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, bị cáo Lê Văn P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (điểm cầu thành phần) gồm bị cáo Trương Tấn L và các chiến sĩ hỗ trợ phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/HSST-QĐ, ngày 26/10/2023, đối với các bị cáo:

1. Trương Tấn L, sinh ngày 30/11/1993; tên gọi khác: Lộc Jet; Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khóm T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Nơi tạm trú: tổ F, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Trương Tiến D (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 16/4/2023; Tạm giam: Ngày 24/4/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn P, sinh ngày 26/7/2004; tên gọi khác: Không có; Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông Lê Văn Út E, sinh năm: 1978 và bà Tiết Thị T1, sinh năm 1988; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 16/4/2023; ngày 24/4/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị T (Nguyễn Thị Thanh T2), sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Lê Văn Út E, sinh năm 1978.

Địa chỉ: tổ F, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Kỳ N, sinh năm 2002.

Địa chỉ: khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

Trần Chí C, sinh năm 1995.

Cùng địa chỉ: Khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Lê Văn T3, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Tấn L, sinh năm 1993 ngụ tổ F, ấp C, xã B, huyện C, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên chị Nguyễn Thị T (là mẹ ruột của L) đuổi ra khỏi nhà. Do có quan hệ họ hàng và là người cùng xóm với Lê Văn P và Lê Văn Út E (là cha ruột của P) nên L đến ở nhờ. Ngoài ra, P cũng thường xuyên bị anh Út E đánh và đuổi ra khỏi nhà nên P thường đến nhà chị T sinh sống.

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 15/4/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện C kết hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ và Công an xã B, huyện C bắt quả tang Lê Văn P có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Kỳ N với số tiền 200.000 đồng tại khu vực tổ B, ấp C, xã B, huyện C. Qua kiểm tra ở túi quần bên phải phía trước của P, lực lượng chức năng thu giữ số tiền 200.000 đồng (số T vừa bán ma túy cho N) và kiểm tra trên người của Nguyễn Kỳ N phát hiện ở túi quần bên phải phía trước có đoạn ống hút nhựa màu vàng, sọc trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (N vừa mua từ P). Cơ quan điều tra Công an huyện C tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Kỳ N: 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng, sọc trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, cho vào bì thư được niêm phong trong bì thư (ký hiệu 01), 01 bao thuốc lá nhãn hiệu YETT màu trắng, đen, có dòng chữ “H thuốc lá dẫn đến cái chết từ từ và đau đớn” có kích thước 8.5 x 5.5x 2.2.

Tạm giữ của Lê Văn P: Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng (bị bể màn hình), số Imei 1: 355079085265382/01, Imei 2: 355080085265380/01, kèm theo sim số 0772136467 và sim số 0366355486 được niêm phong trong bì thư (ký hiệu 02); số tiền 200.000 đồng được niêm trong bì thư (ký hiệu 03). P khai nhận số ma túy bán cho N là của Trương Tấn L nhờ giao giúp. Qua lời khai của P, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Lê Văn Út E ở tổ F, ấp C, xã B, huyện C, thu giữ tại phòng khách: 01 cân điện tử màu trắng, đen, kích thước 06 x 03 cm. Tại phòng ngủ thứ hai: 01 bình nhựa hình cầu dạng trái bí màu trắng, chiều cao 05cm, nắp màu vàng, trên nắp có khoét 02 lỗ nhỏ, gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 11,5cm; 02 đoạn ống nhựa, trong đó đoạn màu xanh dài 07cm, đoạn màu cam dài 4,7cm; 02 cái bật lửa: 01 cái màu tím, có hình quả táo màu cam, có chữ Vạn X; 01 cái màu trắng bị gãy phần đánh lửa, có gắn tờ giấy màu bạc được cuộn tròn, gắn vào bộ phận phát lửa dài 05cm; 01 bộ phận khò bình gas, màu trắng, đen dài 17cm có dòng chữ NAMILLUX. Tại nhà vệ sinh: 01 túi nylon màu trắng, nắp kẹp kích thước 07x 04cm, bên trong có nhiều tinh thể rắn màu trắng nên cho vào bì thư dán kín, trên bì thư có đóng dấu mộc hình tròn, mực màu đỏ của Công an xã B, huyện C, có chữ ký ghi họ tên của Trương Tấn L, Lê Văn Út E, Lê Văn T3, Võ Minh N1, Lê Minh T4, Trần Thị Đ, ghi ngày 15/4/2023. Bên ngoài cửa sổ phòng ngủ thứ hai: 01 bình màu trắng trong, nắp màu đỏ cao 13cm, trên nắp bình có 02 lổ, 01 lỗ gắn một đoạn thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng.

Ngoài ra, Trương Tấn L còn tự nguyện giao nộp số tiền 700.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng bán ma túy cho N và 500.000 đồng tiền của Lê Văn Ú Em đưa cho L đóng tiền điện); điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862280057128014, số IMEI 2: 862280057128006, kèm theo sim số 0388351520 và 0932920700; Căn cước công dân số [...], cấp ngày 19/02/2022 mang tên Trương Tấn L; Giấy đăng ký xe mô tô biển số 38F2- 8591, số đăng ký A0025147, cấp ngày 14/01/2001, tên chủ xe Nguyễn Xuân T5.

Tại kết luận giám định số 425/KL, ngày 17/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ như sau:

  1. Tinh thể rắn màu trắng chứa trong đoạn ống hút nhựa màu vàng, sọc màu trắng hàn kín hai đầu, được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01 gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine có trọng lượng là 0,008 gam.
  2. Tinh thể rắn màu trắng chứa trong túi nylon màu trắng dạng nắp kẹp một đầu, được niêm phong trong bì thư ghi ngày 15/4/2023 gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,139 gam loại Methamphetamine.

Hoàn trả đối tượng giám định: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì còn lại sau giám định: Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/1, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đồng Tháp” và có các chữ ký ghi họ tên của Lê Minh V, Lê Thanh B, Võ Minh N1 và Nguyễn Kỳ N; Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/2, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đồng Tháp” và có các chữ ký ghi họ tên của Lê Minh V, Lê Thanh B, Võ Minh N1 và Trương Tấn L.

Quá trình điều tra, L thừa nhận như sau: Khoảng 15 giờ ngày 15/4/2023, Nguyễn Kỳ N sử dụng điện thoại sim số 0889.507.xxx gọi vào điện thoại của L sim số 0932.920.xxx hỏi mua 200.000 đồng ma túy (qua bạn bè quen biết ngoài xã hội nên N biết số điện thoại và biết L có bán ma túy), L đồng ý bán và hẹn giao ma túy ở khu vực gần chợ B2, huyện C. Sau đó, L đưa tép ma túy cho Lê Văn P đến điểm hẹn để giao ma túy cho N, khi P vừa giao ma túy cho N và nhận số tiền 200.000 đồng từ Ngộ thì bị bắt quả tang cùng với tang vật.

Ngoài lần L nhờ P giao ma túy cho N bị lực lượng Công an bắt quả tang thì L còn trực tiếp bán ma túy cho Nguyễn Kỳ N cụ thể như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 15/4/2023, N sử dụng điện thoại sim số 0889.507.xxx gọi vào điện thoại của L sim số 0932.920.xxx hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì L đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại nhà của Lê Văn P ở khu vực ấp C, xã B, huyện C. Sau đó, N nhờ bạn là Trần Chí C điều khiển xe mô tô chở đến điểm hẹn nhưng không nói là đi mua ma túy mà nói là chở đi công việc. Khi đến nơi, C đậu xe ở lộ nhựa trước nhà P còn N đi vào bên trong. Thấy cửa trước đóng nhưng có bị bể một lỗ tạo ra khoảng trống, N đưa cho L 200.000 đồng qua khoảng trống và lấy ma túy.

Đối với xe mô tô biển số 38F2- 8591, cùng giấy đăng ký số A0025147 là của Nguyễn Thị T (mẹ của L) mua của người khác chưa làm thủ tục sang tên. Qua làm việc với chủ sở hữu, xác định xe mô tô trên đã bán cho người khác và nhận đủ tiền nên không yêu cầu. P mượn xe làm phương tiện đi lại nhưng chị T không biết đã sử dụng làm phương tiện để bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại xong.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSHCL, ngày 26/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố các bị cáo Trương Tấn L và Lê Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo L và P. Đồng thời, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trương Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trương Tấn L với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn P với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ Luật hình sự.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên:
    • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng (bị bể màn hình), số Imei 1: 355079085265382/01, Imei 2: 355080085265380/01, kèm theo sim số 0772136467 và sim số 0366355486; điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 862280057128014, số IMEI 2: 862280057128006, kèm theo sim số 0388351520 và 0932920700, số tiền 400.000 đồng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính.
    • + Tịch thu tiêu hủy: Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/1, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đồng Tháp” và có các chữ ký ghi họ tên của Lê Minh V, Lê Thanh B, Võ Minh N1 và Nguyễn Kỳ N; Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/2, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đồng Tháp” và có các chữ ký ghi họ tên của Lê Minh V, Lê Thanh B, Võ Minh N1 và Trương Tấn L; Bao thuốc lá hiệu YETT màu trắng, đen, có dòng chữ “H thuốc lá dẫn đến cái chết từ từ và đau đớn” có kích thước 8.5 x 5.5x 2.2). Cân điện tử màu trắng, đen, kích thước 06 x 03 cm; B1 nhựa hình cầu dạng trái bí màu trắng, chiều cao 5cm, nắp màu vàng, trên nắp có khoét 02 lổ nhỏ, gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh; cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 11,5cm; 02 đoạn ống nhựa, trong đó đoạn màu xanh dài 07cm, đoạn màu cam dài 4,7cm; 02 cái bật lửa: 01 cái màu tím, có hình quả táo màu cam, có chữ Vạn X; cái màu trắng bị gãy phần đánh lửa, có gắn tờ giấy màu bạc được cuộn tròn, gắn vào bộ phận phát lửa dài 5cm; Bộ phận khò bình gas, màu trắng, đen dài 17cm có dòng chữ NAMILLUX; B1 màu trắng trong, nắp màu đỏ cao 13cm, trên nắp bình có 02 lổ, 01 lỗ gắn một đoạn thủy tinh, một lổ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng.
    • + Trả lại Lê Văn Ú Em số tiền 500.000 đồng; trả lại Trương Tấn L căn cước công dân số [...], cấp ngày 19/02/2022 mang tên Trương Tấn L.

    (Hiện số vật chứng trên Chị cục thi hành án dân sự đang tạm quản lý).

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trương Tấn LLê Văn P đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 42/CT-VKSHCL ngày 26/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của mình.

Bị cáo Trương Tấn L có hành vi trực tiếp bán ma túy Nguyễn Kỳ N với số tiền 200.000 đồng vào lúc 15 giờ và tiếp tục nhờ bị cáo P bán ma túy cho N khối lượng ma túy 0,008 gam loại Methamphetamine với số tiền 200.000 đồng vào lúc 15 giờ 45 phút, cùng ngày 15/4/2023 tại khu vực ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Khi bị cáo P giao ma túy cho N thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện C kết hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ và Công an xã B, huyện C bắt quả tang.

Qua khám xét, Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo L khối lượng 2,139 gam ma túy loại Methamphetamine tại nhà của Lê Văn Út E tọa lạc ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp với mục đích bán cho người khác.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai biên bản phạm tội quả tang ngày 15/4/2023, lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Tấn LLê Văn P đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Xét hành vi của các bị cáo Trương Tấn LLê Văn P, khi thực hiện tội phạm là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa, các bị cáo còn khai rằng hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ và biết bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm thu lợi nhuận tiêu xài cá nhân. Chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong vụ án này cả 02 bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự câu kết bàn bạc chặt chẽ với nhau và không có sự điều khiển của người nào, nên đây là dạng đồng phạm giản đơn. Bị cáo L là người trực tiếp mua ma túy về bán lại cho người khác mục đích kiếm tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo không chỉ thực hiện một lần mà nhiều lần nên đã vi phạm vào điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo P được bị cáo L nhờ bán ma túy cho N nhưng đã đồng ý và chỉ thực hiện một lần nên đã vi phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Đồng thời, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Do đó, đối với các bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; riêng bị cáo L tự thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình xử lý như sau:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu vàng (bị bể màn hình), kèm theo sim số 0772136467 và sim số 0366355486; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen đã qua sử dụng, kèm theo sim số 0388351520 và 0932920700; số tiền 400.000 đồng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
  • - Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/1, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đ”; Bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/2, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K- Công an Đồng Tháp”; 01 bao thuốc lá hiệu YETT màu trắng, đen; 01 cân điện tử màu trắng, đen; 01 bình nhựa hình cầu dạng trái bí màu trắng, nắp màu vàng, trên nắp có khoét 02 lổ nhỏ, gắn đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 đoạn ống nhựa; 02 cái bật lửa; 01 bộ phận khò bình gas, màu trắng, đen có dòng chữ NAMILLUX; 01 bình màu trắng trong, nắp màu đỏ là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
  • - Số tiền 500.000 đồng của Lê Văn Út E; căn cước công dân số [...], cấp ngày 19/02/2022 mang tên Trương Tấn L không liên quan đến vụ án nên cần xem xét trả lại;

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý).

[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo L và P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 42/CT-VKSHCL ngày 26/9/2023 và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.

[12] Đối với Nguyễn Kỳ N là người mua ma túy của các bị cáo L và P, khi bị bắt quả tang thu giữ 0,008 gam ma túy chưa đủ căn cứ xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an huyện C đã chuyển về Công an phường 6 thành phố C ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật. Đối với Trần Chí C điều khiển chở N nhưng không biết đi mua ma túy nên không xem xét xử lý.

Riêng Lê Văn Ú Em không biết L có tàng trữ và sử dụng ma túy trong nhà nên không xem xét xét xử lý hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trương Tấn LLê Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  2. Căn cứ pháp luật và hình phạt.
    1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    2. Xử phạt bị cáo Trương Tấn L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2023.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    4. Xử phạt bị cáo Lê Văn P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/4/2023 đến ngày 24/4/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:
    • - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước gồm:
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng gold (bị bể màng hình), máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, số IMEI1 355079085265382/01, IMEI2: 355080085265380/01, chứa 02 (hai) sim gồm: Sim 1 số điện thoại 0772.136.xxx và sim 2 số điện thoại 0366.355.xxx được niêm phong bằng cách cho điện thoại vừa nêu trân vào bì thư trắng (ký hiệu là 02) được dán kín lại, trên bì thư có đóng dấu mộc hình tròn, mực màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp có chữ ký ghi họ tên của Võ Minh N1, Nuyễn Thanh T6, Lê Minh T4, Lê Văn P ngày 20/4/2023.
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 862280057128014, số IMEI2: 862280057128006, chứa 02 sim điện thoại: sim 1 số 0388351520 và sim 2 số 0932920700, tiến hành niêm phong cái điện thoại trên lại bằng cách cho vào bì thư màu trắng có đóng dấu mộc hình tròn, mực màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp, dán kín lại, trên bì thu có chữ ký ghi họ tên của Trương Tấn L, Nguyễn Thanh T7, Võ Minh N1, Lê Minh T4 ghi ngày 15/4/2023.
      • + Số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng;
    • - Trả lại tài sản như sau:
      • + Trả lại cho ông Lê Văn Ú Em số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng;
      • + Trả lại cho Trương Tấn L 01 căn cước công dân số [...], cấp ngày 19/02/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mang tên Trương Tấn L.
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số 409/1, ngày 15/4/2023”, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi rõ họ tên: Lê Minh V, Lê Thanh B, Võ Minh N1 và Nguyễn Kỳ N;
      • + Tinh thể rắn còn lại sau giám định có khối lượng 1,999 gam được niêm phong lại trong bì thư, dán giấy niêm phong ghi “Niêm phong số 409/2, ngày 15/4/2023, có đóng hình dấu tròn đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi rõ họ tên Trương Tấn L, Võ Minh N1, Lê Minh V và Lê Thanh B;
      • + 01 (một) bao thuốc lá hiệu YETT, có dòng chữ “H thuốc lá dẫn đến cái chết từ từ và đau đớn” có kích thước (8.5 x 5.5 x 2.2)cm, có màu trắng, đen;
      • + 01 (một) bình nhựa hình cầu dạng trái bí màu trắng, chiều cao 05cm, nắp màu vàng, nắp bình có khoét 02 lổ nhỏ, gắn 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh đã qua sử dụng;
      • + 01 (một) cân điện tử màu trắng, đen, kích thước 06 x 03 cm;
      • + 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, dài 11,5cm đã qua sử dụng;
      • + 02 (hai) đoạn ống hút nhựa, trong đó: 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh dài 07cm, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu cam dài 4,7cm đã qua sử dụng;
      • + 02 (hai) cái bật lửa có đặc điểm: 01 cái bật lửa màu tím, có hình quả táo màu cam, có chữ Vạn X; 01 cái bật lửa màu trắng bị gãy phần đánh lửa, có gắn 01 tờ giấy màu bạc được cuộn tròn, gắn vào bộ phận phát lửa dài 05cm đã qua sử dụng;
      • + 01 (một) cái bộ phận khò bình gas, màu đỏ trắng đen, dài 17cm có dòng chữ NAMILLUX đã qua sử dụng;
      • + 01 (một) bình màu trắng trong, nắp màu đỏ cao 13cm, trên nắp bình có 02 lổ, 01 lỗ gắn một đoạn thủy tinh, một lổ gắn ống hút bằng nhựa màu trắng;

      (Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/10/2023).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  5. Buộc các bị cáo Trương Tấn LLê Văn P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger