Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 17-6-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Ông Ngô Văn Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 58/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Thạch H, sinh ngày 01/01/1991, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú ấp Sóc Tro G, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim S, sinh năm 1966 và bà Thạch Thị H1, sinh năm 1966 (chết); bị cáo có vợ tên Thạch Thị Chane T, sinh năm 1991 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 08/QĐ-XPHC ngày 06/6/2023 (chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào khác; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 23/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 10/5/2024; có mặt.

2. Bị cáo Thạch K, sinh ngày 01/01/1984, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch C, sinh năm 1952 (chết) và bà Thạch Thị R, sinh năm 1954 (chết); bị cáo có vợ tên Thạch Thị S1, sinh năm 1986 (sống chung như vợ chồng) và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự, bị Công xã T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 09/QĐ-XPHC ngày 06/02/2024 (chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào khác; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 23/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 10/5/2024; có mặt.

Người làm chứng:

Ông Hứa Văn H2, sinh năm 1988. Địa chỉ ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim Hải Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim S2, sinh năm 1990. Địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1967. Địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim Thành H3, sinh năm 1989. Địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim Sô D, sinh năm 1990. Địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 14/02/2024, Công an xã T tiến hành kiểm tra và phát hiện bị cáo Thạch H, bị cáo Thạch K, Hứa Văn H2, sinh ngày 06/11/1988 nơi ở hiện tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Kim Hải Đ, sinh ngày 03/10/1989, Kim S2, sinh ngày 12/02/1990, Nguyễn Văn A, sinh ngày 01/01/1967, Kim Thanh H4, sinh ngày 07/10/1989, Kim Sô D, sinh ngày 09/9/1990 cùng nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đang tham gia đánh bạc với hình thức binh bài xập xám 13 lá và tiến lên 13 lá thắng thua bằng tiền. Các đối tượng và bị cáo đã tham gia đánh bạc từ khoảng 21 giờ 30 phút đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị kiểm tra, phát hiện và sau đó được mời về trụ sở Công an xã để xác minh, làm rõ. Quá trình làm việc, các đối tượng và bị cáo nêu trên đã thừa nhận hành vi đánh bạc trái phép của mình với số tiền đánh bạc, cụ thể như sau:

Tại chiếu bạc thứ nhất các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức binh xập xám 13 lá gồm bị cáo Thạch H, bị cáo Thạch K, ông Kim Hải Đ và ông Kim S2. Các đối tượng và bị cáo sử dụng dụng cụ đánh bạc là bộ bài tây 52 lá. Mỗi người tham gia đánh bạc là một tụ và quy định chơi theo cụm, mỗi cụm một người sẽ làm cái chia bài 02 bàn. Người làm cái sẽ chia bài cho 04 tụ, mỗi tụ 13 lá. Sau khi chia bài xong thì mỗi tụ sẽ binh bài. Kết thúc binh bài thì tất cả các tụ đều mở bài (lật bài), sau đó tụ làm cái sẽ so bài với từng tụ con để tính thắng thua. Kết quả thắng thua giữa tụ cái và từng tụ con có thể sẽ thắng thua 01 chi hoặc 03 chi, nghĩa là tính là thắng thua 01 bàn với số tiền thắng thua là 25.000 đồng/bàn. Sau 02 bàn (01 cụm) giữa tụ cái và tụ con sẽ tính thắng thua là huề nhau (trường hợp thắng 01 bàn, thua 01 bàn) hoặc sẽ thắng thua 02 bàn và chung tiền cá cược 01 cụm là 50.000 đồng.

Về cách thức binh bài thì mỗi tụ (mỗi người chơi) sẽ xếp bài thành 03 chi: Chi 01 có 03 lá bài, chi 02 có 05 lá bài và chi 03 có 05 lá bài. Bài ở mỗi chi có thể sắp xếp theo hình thức quy định như sau: “Mậu thầu” có nghĩa là bài lẻ; “Đôi” có nghĩa là 02 lá bài giống nhau, 02 đôi xếp ở cùng 01 chi thì được gọi là “Thú”; “Sám” có nghĩa là 03 lá bài giống nhau, 01 sám kết hợp với 01 đôi gọi là “Cù lũ”; “Sảnh” có nghĩa là 05 lá bài liên tiếp nhau; “Thùng” có nghĩa là 05 lá bài đồng chất (đồng nước bài là cơ hoặc rô hoặc chuồng hoặc phích); “Thùng phá sảnh” có nghĩa là 05 lá bài liên tiếp đồng chất; “Tứ quý” có nghĩa là 04 lá bài giống nhau.

Khi so bài, nếu có trường hợp bãi (thắng trắng) thì tính thắng 01 bàn, không cần phải so từng chi, còn nếu không có trường hợp bãi (thắng trắng) thì giữa tụ cái và tụ con sẽ so từng chi từ chi 01 đến chi 03. Kết quả tổng cộng nếu thắng 02 chi, thua 01 chi thì tính thắng 01 chi hoặc thắng cả 03 chi thì được tính thắng tại bàn đó; ngược lại kết quả tổng cộng nếu thua 02 chi, thắng 01 chi thì tính thua 01 chi hoặc thua cả 03 chi thì tính thua tại bàn đó. Sau 02 bàn (01 cụm) thì tính thắng, thua hoặc huề nhau. Nếu thắng, thua thì số tiền thắng, thua sẽ là 50.000 đồng 01 cụm, do số tiền quy định thắng, thua mỗi bàn là 25.000 đồng.

  • - Bị cáo Thạch H khai nhận sử dụng 100.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra bị cáo Thạch H thắng số tiền 50.000 đồng. Tạm giữ từ bị cáo Thạch H số tiền 150.000 đồng.
  • - Bị cáo Thạch K khai nhận sử dụng số tiền 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra bị cáo Thạch K thắng 50.000 đồng. Tạm giữ từ bị cáo Thạch K số tiền 200.000 đồng.
  • - Ông Kim Hải Đ: Khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra ông Kim Hải Đ thắng số tiền 50.000 đồng. Tạm giữ từ ông Đ số tiền 250.000 đồng.
  • - Ông Kim S2: Khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia liên tục. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra ông Kim S2 thua số tiền 150.000 đồng. Tạm giữ từ ông S2 số tiền 50.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo Thạch H, Thạch K và đối tượng nêu trên là 650.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai, các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức tiến lên 13 lá gồm: Ông Hứa Văn H2, ông Nguyễn Văn A, ông Kim Thanh H4 và ông Kim Sô D. Các đối tượng quy định người nào hết bài đầu tiên sẽ thắng nhất và thắng người hết bài cuối cùng 40.000 đồng, người hết bài thứ hai sẽ thắng nhì và thắng người hết bài thứ ba 20.000 đồng. Quá trình tham gia đánh bạc, trong khoảng vài ván đầu, các đối tượng quy định số tiền thắng nhất là 50.000 đồng, thắng nhì là 25.000 đồng nhưng vì không có tiền lẻ để chung tiền thắng thua nên sau đó các đối tượng đã thay đổi quy định thắng thua là 40.000 đồng và 20.000 đồng như trên. Tổng số tiền đánh bạc của các đối tượng nêu trên tại thời điểm Công an kiểm tra, phát hiện và tạm giữ là 1.524.000 đồng. Do đó, không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc mà chỉ vi phạm hành chính. Ngoài ra, việc các đối tượng và các bị cáo tự ý đến khu vực chuồng bò bỏ hoang của ông S3 để đánh bạc thắng thua bằng tiền với nhau, ông S3 hoàn toàn không biết. Tại cùng một thời điểm đang diễn ra 02 chiếu bạc nhưng tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và số lượng người tham gia đánh bạc dưới 10 người, không có ai đứng ra tổ chức để thu tiền xâu. Do đó, không có dấu hiệu của tội Tổ chức đánh bạc.

Qua quá trình xác minh, điều tra nhận thấy bị cáo Thạch H, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số: 08/QĐ-XPHC ngày 06/6/2023 và bị cáo Thạch K, bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số: 09/QĐ-XPHC ngày 06/02/2024 (cả hai bị cáo chấp hành nộp phạt vào ngày 20/02/2024 và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Đến ngày 14/02/2024, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền. Do đó, hành vi của các bị cáo Thạch HThạch K đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Ngày 07/3/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ từ bị cáo Thạch K số tiền 200.000 đồng, bị cáo Thạch H số tiền 150.000 đồng. Đến ngày 12/3/2024 tiếp tục tạm giữ từ ông Kim Hải Đ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng.

Đối với các đối tượng Kim Hải Đ, Kim S2, Kim Thanh H4, Kim Sô D, Hứa Văn H2, Nguyễn Văn A tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của các đối tượng nêu trên chỉ vi phạm hành chính. Ngày 26/02/2024, Công an xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng với số tiền 1.500.000 đồng theo quy định tại Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Đồng thời, tịch thu tiêu hủy và sung ngân sách nhà nước các dụng cụ, tiền của các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. (Bút lục số 33 đến số A).

Về địa điểm nơi diễn ra hoạt động đánh bạc nằm trên diện tích đất của ông Thạch S4, sinh ngày 01/01/1957 nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nhưng qua quá trình xác minh, ông Thạch S4 cùng gia đình đã rời địa phương đi làm thuê ở nơi khác (không rõ địa chỉ) không ai trông coi, quản lý. Các bị can và đối tượng tự đến và sử dụng phần đất để tham gia đánh bạc

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Thạch HThạch K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Thạch HThạch K trình bày: Thừa nhận hành vi đánh bạc trái phép cá cược thắng, thua bằng tiền (dưới hình thức chơi bài binh sập xám 13 lá) cùng với nhiều đối tượng khác thì bị công an kiểm tra và phát hiện, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc bị tạm giữ bằng 650.000 đồng đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố (trong đó bị cáo Thạch H sử dụng 100.000 đồng, bị cáo Thạch K sử dụng số tiền 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc). Các bị cáo không thay đổi lời khai.

Người làm chứng ông Kim Sô D có mặt tại phiên toà trình bày có tham gia đánh bạc tại hiện trường tại chiếu bạc kế bên, ông D có nhìn thấy 02 bị cáo HK đánh bài ăn thua bằng tiền với Kim Hải ĐKim S2.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên được phân công giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Thạch HThạch K phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Thạch HThạch K mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng là hình phạt chính.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Thạch K số tiền 200.000 đồng, bị cáo Thạch H số tiền 150.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo Thạch HThạch K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo Thạch HThạch K là phù hợp với nhau, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của người cùng tham gia đánh bạc trong chiếu bạc thứ nhất là ông Kim Hải Đ, ông Kim S2 và lời khai ông Kim Sô D, phù hợp với biên bản sự việc của Công an xã T lập ngày 14/02/2024, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng và tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo K số tiền 200.000 đồng, bị cáo Thạch H số tiền 150.000 đồng, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 14/02/2024, tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Các bị cáo Thạch HThạch K đã có hành vi đánh bạc trái phép cá cược thắng thua bằng tiền (dưới hình thức chơi bài binh sập xám 13 lá) cùng với nhiều đối tượng khác. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thu giữ trên chiếu bạc bằng 650.000 đồng.

[2] Hành vi của bị cáo Thạch HThạch K đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương đánh bạc trái phép là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Tổng số tiền các bị cáo và những người cùng tham gia đánh bạc ở chiếu bạc bằng 650.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), nhưng bị cáo Thạch H đã bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 08/QĐ-XPHC, ngày 06/6/2023; bị cáo Thạch K bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 09/QĐ-XPHC ngày 06/02/2024, hai bị cáo nộp phạt vào ngày 20/02/2024 và chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Đến ngày 14/02/2024, tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền. Do đó, hành vi các bị cáo Thạch HThạch Khanh lần này đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng truy tố.

[3] Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, để các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật mà sửa chữa sai lầm, đồng thời để răn đe, phòng ngừa cho xã hội đối với những hành vi tượng tự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều là người dân tộc Khmer kiến thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy số tiền các bị cáo dùng đánh bạc nhỏ, quy mô số người tham gia ít, tính chất vụ án ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, để cho các bị cáo hưởng sự khoan hồng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, tác động đến lợi ích kinh tế của các bị cáo, để các bị cáo sửa chữa hành vi sai trái của mình mà từ bỏ hành vi đánh bạc.

[4] Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Thạch H 150.000 đồng và của bị cáo Thạch K 200.000 đồng.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được thu thập là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Thạch HThạch K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Thạch HThạch K mỗi bị cáo số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng là hình phạt chính.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ bài tây 52 lá, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách số tiền sử dụng đánh bạc tạm giữ của bị cáo Thạch H 150.000 đồng và của bị cáo Thạch K 200.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Thạch HThạch K mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thạch H và bị cáo Thạch K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Văn Truyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Ken

Nguyễn Văn Truyền

Ngô Văn Chiến

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Hiền đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger