|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/DS-PT Ngày 17-4-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Huỳnh Đắc Đương |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Văn Lực |
| Ông Đặng Văn Hùng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1954; địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1962; địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh (chết ngày 27/9/2023).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn L:
- Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1966 (có mặt);
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1982 (xin xét xử vắng mặt);
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1991 (xin xét xử vắng mặt);
- Ông Trần Văn A, sinh năm 1993; Cùng địa chỉ ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1979 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1980 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1987 (vắng mặt);
- Ông Phạm Quốc D, sinh năm 2002 (vắng mặt);
- Bà Phạm Thị S1, sinh năm 1966 (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị S1: Bà Kim Thị Mỹ H là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).
- Ông Trần Anh T2, sinh năm 1991 (xin xét xử vắng mặt);
- Ông Trần Văn A, sinh năm 1993 (xin xét xử vắng mặt);
- Bà Hà Thị L3; sinh năm 1987 (xin xét xử vắng mặt);
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1992 (xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh S là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Nguyễn Minh S trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 10.751m², thửa 316, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, do ông đứng tên quyền sử dụng đất. Vào năm 1995 ông Trần Văn L làm nghề đi biển, do đất ông L ở xa bờ nên ông có kêu ông L về cất nhà ở diện tích 2 công tầm 2,7 mét để giữ lá (loại lá dừa nước) cho ông đồng thời để thuận tiện việc đi đánh bắt về đất liền. Nay ông yêu cầu ông Trần Văn L trả cho ông quyền sử dụng đất diện tích thực đo 1.329m² (trong diện tích 10.751m²) thuộc thửa 316, loại đất cây lâu năm, tọa lạc ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn bà Phạm Thị S1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn L trình bày: Thừa nhận năm 1995 ông Nguyễn Minh S kêu vợ chồng bà về ở giữ đất cho ông Nguyễn Minh S diện tích sử dụng 1.400m² (thực đo 1.329m²), quá trình sử dụng, ông Trần Văn L có đào ao nuôi trồng thủy sản tôm, cua và cất nhà ở cho đến nay nhưng ông Nguyễn Minh S không có ý kiến gì, nên bà yêu cầu công nhận và được sử dụng diện tích thực đo 1.329m² mà trước đây ông Nguyễn Minh S cho sử dụng để trả công sức giữ đất cho ông L vào năm 1995.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh S về việc yêu cầu ông Trần Văn L trả lại cho ông diện tích 1.400m² (thực đo 1.239m²) trong diện tích 10.751m² thuộc thửa 316, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn L. Công nhận cho ông Trần Văn L sử dụng diện tích (thực đo 1.329m²) trong diện tích 10.751m² thuộc thửa 316, tờ bản đồ 8, loại đất cây lâu năm, tọa lạc ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tứ cận, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 nguyên đơn ông Nguyễn Minh S kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị S1 trình bày quan điểm bảo vệ như sau: Ông Nguyễn Minh S có kêu vợ chồng ông Trần Văn L và bà Phạm Thị S1 đến ở giữ đất cho ông Nguyễn Minh S. Năm 1998 ông Nguyễn Minh S làm thủ tục chuyển nhượng đất cho ông Lê Hoàng P1 thì ông Nguyễn Minh S cũng thừa nhận có trừ ra một phần đất để cho ông Trần Văn L thể hiện nội dung “Tôi có cho em Trần Văn L người ở cùng ấp 2 công tầm 2,7m, diện tích 1.458m², còn lại 9.293m² tôi đồng ý sang nhượng đất trên cho ông Lê Hoàng P1”. Các chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện xác định ông Nguyễn Minh S có kêu ông Trần Văn L và bà Phạm Thị S1 đến ở giữ lá cho ông S và ông S có cho ông L 2 công đất, ông Trần Văn L cải tạo ao, cất nhà nhưng ông Nguyễn Minh S không ngăn cản, ông Trần Văn L và bà Phạm Thị S1 sử dụng liên tục, bản án sơ thẩm giải quyết là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Minh S: Xét thấy tại tờ sang nhượng đất ngày 19/01/1998 thể hiện ông Nguyễn Minh S có cho em Trần Văn L là 02 công tầm 2,7m bằng 1.458m², còn lại diện tích 9.293m² ông S đồng ý sang nhượng cho em Lê Hoàng P1, sinh năm 1971 với giá tiền tính bằng vàng là 8 chỉ rưởi vàng 24k. Trong tờ sang nhượng này có chữ ký của ông Nguyễn Minh S, người làm chứng ông Lê Văn T3 và có xác nhận ngày 18/4/2002 của chính quyền địa phương.
Theo biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thì ông Lê Hoàng P1 cũng thừa nhận, khẳng định vào năm 1998, ông có chuyển nhượng phần diện tích 9.293m² thuộc thửa 316, loại đất trồng lá của ông Nguyễn Minh S, phần diện tích còn lại là 1.458m² của thửa 316 thì ông không có mua, vì ông S nói đã cho ông Trần Văn L vì ông L giữ lá dừa nước cho ông S, bản thân ông P1 cũng không có tranh chấp gì đối với phần diện tích ông L đang ở.
Đối với một số người làm chứng khác (đã trình bày tại các bút lục 12, 146, 150) đều xác nhận ông Nguyễn Minh S có kêu gia đình ông Trần Văn L giữ đất trồng lá và có cho ông L 02 công đất. Quá trình ở, gia đình ông L có tiến hành đào ao để nuôi tôm, cua, gia đình ông S cũng biết vấn đề này và không có ngăn cản gì.
Mặc khác tại Công văn số 1068/CNHCT ngày 22/7/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc cung cấp thông tin địa chính của thửa 316, tờ bản đồ 8 thể hiện. Theo tư liệu 2017 thì thửa 316 thuộc một phần thửa 292, tờ bản đồ 8, diện tích 1.616m², loại đất CLN và thuộc một phần thửa 577, tờ bản đồ số 8, diện tích 4.757m² do ông Trần Văn L, ông Lê Hữu P2 và bà Nguyễn Thị N kê khai trên sổ mục kê đất đai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T lập ngày 09/7/2018.
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc cho gia đình bị đơn mượn phần diện tích đất 1.329m² thuộc thửa 316.
Từ những chứng cứ trên cho thấy nguồn gốc phần thửa đất số 316 là của nguyên đơn ông Nguyễn Minh S. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng ông Nguyễn Minh S đã cho bị đơn ông Trần Văn L diện tích 1.329m², phần đất còn lại thì ông Nguyễn Minh S đã chuyển nhượng cho ông Lê Hoàng P1. Sau khi được cho đất thì ông Trần Văn L đã sử dụng, cải tạo đào ao nuôi tôm, cua, cất nhà ở. Ông Nguyễn Minh S biết nhưng không có ngăn cản, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh S là không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Minh S kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với ông Trần Văn L sau khi xét xử sơ thẩm thì ông L chết ngày 27 tháng 9 năm 2023 nên Tòa án cấp phúc thẩm có đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn L tham gia tố tụng gồm bà Phạm Thị S1, ông Trần Văn T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn A.
[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: Về nguồn gốc đất đang tranh chấp các đương sự xác định là của ông Nguyễn Minh S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 10.751m², thửa số 316, tờ bản đồ số 8 loại đất cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Năm 1995 ông Trần Văn L làm nghề đánh bắt thuỷ sản, do đất ông Trần Văn L ở xa bờ nên ông Nguyễn Minh S có kêu ông L về cất nhà ở trên phần đất này khoảng 2 công tầm 2,7m (thực đo 1.329m²) thuộc một phần thửa 316, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh để giữ lá cho ông và đồng thời để thuận tiện cho việc ông Trần Văn L đi đánh bắt thuỷ sản và về đất liền. Tuy nhiên ông Nguyễn Minh S cũng không nói rõ là cho ở tạm hay là cho hẳn luôn.
Đối với bị đơn ông Trần Văn L thừa nhận nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Minh S nhưng năm 1995 ông Nguyễn Minh S cho ông L sử dụng diện tích thực đo là 1.329m² để giữ đất cho ông S. Quá trình sử dụng ông cất nhà ở và đào ao nuôi tôm, cua ông Nguyễn Minh S biết nhưng không có ngăn cản nên có căn cứ xác định ông Nguyễn Minh S đã cho ông phần đất này.
Tại biên bản hòa giải ngày 19/9/2019 của Ban N1, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì ông Nguyễn Minh S cũng thừa nhận việc cho đất ông Trần Văn L thể hiện ở nội dung “Ngày 19/9/1995 tôi có cho ông L ở đất tôi đến hết đời hoặc khi nào có chỗ ở khác sẽ trả lại cho tôi”. Mặc khác tại tờ sang nhượng đất ngày 19/01/1998 giữa ông Nguyễn Minh S với ông Lê Hoàng P1 thì ông S cũng thừa nhận trừ ra một phần đất của ông để cho Trần Văn L thể hiện nội dung như sau “Tôi có cho em Trần Văn L người ở cùng ấp 2 công tầm 2,7m, diện tích 1.458m², còn lại 9.293 m² tôi đồng ý sang nhượng đất trên cho ông Lê Hoàng P1” nội dung này được ông Nguyễn Minh S thừa nhận do ông viết và ý chí tự nguyện của ông, không ai ép buộc.
Qua xác minh ở địa phương nơi phần đất tranh chấp và lời khai của những người ở tại địa phương xác nhận ông Nguyễn Minh S có kêu ông Trần Văn L ra ở giữ lá cho ông S và ông S có cho ông L 2 công đất tầm 2,7m (thể hiện ở các bút lục 22, 23, 146, 150). Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh S là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh S. Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận, chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị S1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Minh S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng:
Về án phí: do ông Nguyễn Minh S là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Nguyễn Minh S.
Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc ông Nguyễn Minh S phải chịu 5.100.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản, ông Nguyễn Minh S đã nộp tạm ứng xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Minh S với bị đơn ông Trần Văn L.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh S về việc yêu cầu ông Trần Văn L trả lại cho ông diện tích đất 1.329m² trong tổng diện tích 10.751m² thuộc thửa 316, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn L. Công nhận cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn L gồm bà Phạm Thị S1, ông Trần Văn T, ông Trần Văn T1 và ông Trần Văn A được sử dụng diện tích đất 1.329m² trong tổng diện tích 10.751m² thuộc thửa 316, tờ bản đồ số 8, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, phần đất có tứ cận sau:
Phía Đông giáp thửa 316 có kích thước 67,19m;
Phía Tây giáp thửa 292 có kích thước 19,87m; giáp thửa 305 có kích thước 54,63m
Phía Nam giáp thửa 315 có kích thước 16,09m.
Phía Bắc giáp kênh có kích thước 2,93m; 15,2m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 824/CNHCT ngày 07/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).
Các đương sự bà Phạm Thị S1, ông Trần Văn T, ông Trần Văn T1, ông Trần Văn A và ông Nguyễn Minh S có nghĩa vụ thực hiện về tài chính và giao nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Minh S.
Về chi phí thẩm định, định giá tài sản buộc ông Nguyễn Minh S phải chịu 5.100.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản, ông Nguyễn Minh S đã nộp tạm ứng xong.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trần Văn Lực | Huỳnh Đắc Đương |
| Đặng Văn Hùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 54/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
