Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 11 năm 2023

(V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân; Ông Đặng Viết Côi.

Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2023/QĐHPT-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

*/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

*/ Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

*/ Người làm chứng: Bà Lê Thị L1, sinh năm 1957; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

(Chị H, anh L và bà L1 đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Trần Văn L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2010. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau bình thường, chỉ thỉnh thoảng mới phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, mâu thuẫn xong rồi lại thôi. Tuy nhiên, đến năm 2016 mâu thuẫn vợ chồng chị trở nên căng thẳng hơn do nảy sinh quan điểm về cuộc sống trái ngược nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng, không tìm được tiếng nói chung với nhau nữa, đã xảy ra đánh cãi chửi nhau, anh L không tu chí làm ăn, mải chơi, không quan tâm đến vợ con cũng như gia đình. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy chị không còn tình cảm gì với anh L nữa, chị không muốn tiếp tục chung sống với anh L nữa, chị và anh L không có gì để níu kéo nên chị làm đơn xin được ly hôn anh L để ổn định cuộc sống mới.

Về con chung: chị và anh L có 02 con chung: Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 21/7/2010 và Trần Bảo Minh T, sinh ngày 18/12/2015. Hiện nay cháu C đang ở với bố và ông bà nội; cháu T đang ở với chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Hiện nay, chị đang làm nghề may, thu nhập bình quân hàng tháng của chị là từ 7 đến 8 triệu đồng. Thời gian làm việc từ thứ 2 đến thứ 7, từ 7h30 đến 19h hàng ngày. Chị có đủ điều kiện và thời gian để chăm sóc các con, ngoài ra chị cũng có sự hỗ trợ từ bố mẹ đẻ chị.

Về tài sản chung, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị nhận thấy cuộc hôn nhân của vợ chồng chị không thể cứu vãn được nữa, chị cũng bận đi làm, để đỡ mất thời gian của chị cũng như của Tòa án, chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải giữa hai vợ chồng chị. Chị cũng không còn bất cứ giấy tờ, tài liệu nào để nộp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc khác của Tòa án cũng như vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Bị đơn anh Trần Văn L: Không có ý kiến trình bày gì.

Theo biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, bà Lê Thị L là 1 người làm chứng trình bày: về mối quan hệ bà là mẹ đẻ anh Trần Văn L, mẹ chồng chị Nguyễn Thị H. Chị H và anh L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2010. Gia đình hai bên cũng tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán cho anh L và chị H. Sau kết hôn, chị H chuyển về nhà bà sinh sống ở N - V - Ứ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn một thời gian ngắn thì chị H và anh L có xảy ra mâu thuẫn, ban đầu bà thấy hai vợ chồng mâu thuẫn 1,2 ngày giận nhau rồi lại thôi, nhưng đến khoảng năm 2016 thì bà thấy mâu thuẫn hai vợ chồng ngày càng căng thẳng, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, chị H và anh L sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay, anh L đang đi làm ở nội thành Hà Nội, sáng đi sớm, tối muộn mới về nên không lên Tòa án làm việc và trình bày quan điểm được. Anh L đã biết việc chị H có đơn và Tòa án đã thụ lý đang giải quyết vụ án ly hôn của anh L và chị H, anh L có nói với bà quan điểm anh L nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, sống ly thân đã lâu nên cũng đồng ý ly hôn. Quan điểm của bà, đây là cuộc sống là quyền của các con, bà không có ý kiến gì, anh L nói nguyện vọng của anh với bà như nào thì bà trình bày lại với Tòa án như vậy. Anh L cũng xin phép không đến Tòa án làm việc được, xin vắng mặt tại tất cả cả buổi làm việc của Tòa án, xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Về con chung: anh L và chị H có 02 con chung: Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 21/7/2010 và Trần Bảo Minh T, sinh ngày 18/12/2015. Sau khi chị H sống ly thân với anh L thì cháu C vẫn ở với bố và ông bà nội cho đến nay, còn cháu T ở với chị H. Nay chị H và anh L ly hôn, nguyện vọng của anh L cũng như của gia đình tôi xin được tiếp tục nuôi cháu C, còn cháu T bé hơn để chị H nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, công nợ chung: chị H và anh L không có tài sản chung cũng không có nợ chung gì.

Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 là người ở Đ, thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại UBND xã V ngày 28/01/2010 với anh Trần Văn L, sinh năm 1982. Sau khi kết hôn, chị H chuyển hộ khẩu và chuyển về sinh sống cùng anh L tại nhà anh L ở Đ, thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. Về mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh L cũng như nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không nắm được cụ thể, chỉ biết chị H đã về sống cùng nhà bố mẹ đẻ mấy năm nay, anh L thì vẫn ở nhà anh L. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh L, quan điểm của chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật đảm bảo quyền lợi cho công dân.

Về con chung: chị H và anh L có 02 con chung: Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 21/7/2010 và Trần Bảo Minh T, sinh ngày 18/12/2015. Đề nghị Tòa án giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các cháu nhỏ.

Về tài sản chung, công nợ chung giữa anh L và chị H chúng tôi không biết.

Hiện nay, anh L đang đi làm xa nhà, thỉnh thoảng mới về nhà.

Tại phiên tòa, chị H, anh L và bà L1 đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết cho chị H được ly hôn với anh L; giao con chung Trần Thị Quỳnh C cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giao con chung Trần Bảo Minh T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; chị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H1 đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H làm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền, Tòa án đã triệu tập anh L đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng thông qua bà L1 là mẹ anh L có trình bày với Tòa là do anh L bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc được, chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Ứ ngày 28/01/2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị H trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã có thời gian sống ly thân 6 năm nay, chị H cương quyết xin được ly hôn với anh L. Phía anh L trong suốt quá trình hòa giải và phiên tòa anh L không đến Tòa để thể hiện nguyện vọng không có lý do chính đáng. Thông qua bà L1 là mẹ đẻ anh L được biết vợ chồng anh L chị H có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân như chị H trình bày, nên chị H sống ly thân với anh L đã 6 năm. Anh L bận đi làm nên không lên tòa án làm việc được.

Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh L với chị H là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 21/7/2010 và Trần Bảo Minh T, sinh ngày 18/12/2015. Chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được nuôi dưỡng cả hai con chung và chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con cho chị. Thông qua mẹ đẻ là bà L1, anh L cùng bà L1 đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung Trần Thị Quỳnh C, còn con chung Trần Bảo Minh T để cho chị H nuôi dưỡng. Xét, từ khi hai vợ chồng sống ly thân, con chung Trần Thị Quỳnh C sống cùng bố và ông bà nội cho đến nay, con chung Trần Bảo Minh T sống cùng chị H cùng ông bà ngoại cho đến nay. Chị H làm lao động tự do có thu nhập từ 7 đến 8 triệu đồng/tháng, thời gian làm việc từ 19h30 đến 19h hàng ngày nên việc giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung sẽ không được đảm bảo; mặt khác, khoảng cách giữa nhà chị H và nhà anh L chỉ cách nhau từ đội 8 đến đội 9 cùng thôn N, nên cả hai con chung đi lại giữa hai nhà không gặp khó khăn. Do đó, để đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung được tốt nhất; đảm bảo tâm sinh lý các con chung không bị xáo trộn, ảnh hưởng nhiều nên giao con chung Trần Bảo Minh T cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao con chung Trần Thị Quỳnh C cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật; chị H và anh L đều không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh L và chị H cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi mới là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải nộp án phí, nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn L.
  2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn L có 02 con chung là: Trần Thị Quỳnh C, sinh ngày 21/7/2010 và Trần Bảo Minh T, sinh ngày 18/12/2015. Giao con chung Trần Thị Quỳnh C cho anh L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giao con chung Trần Bảo Minh T cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh L và chị H cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.

Sau ly hôn anh L, chị H đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dỡng, giáo dục con thì ngời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ngời đó.

  1. Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0058198 ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Chi cục THADS huyệnỨng Hoà;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Các đơng sự;
  • - Lu h/s; v/p./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 54/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger