TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 16 – 4 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Tô Thị Thanh Tâm
- Ông Nguyễn Xuân Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn H, sinh ngày 18/6/1987; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Văn H1 (đã chết) và bà Bùi Thị H2; Có vợ là Hà Thị B và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 237/QĐ/XPVPHC ngày 21/8/2006 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong tháng 8/2006.
Quyết định số 95/QĐ/XPVPHC ngày 02/11/2011 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình, xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bản án số 87/2012/HSPT ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm xử phạt Bùi Văn H 03 năm tù về tội Cướp tài sản và 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, tổng hợp hình phạt là 06 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 10/2016, chấp hành xong án phí và bồi thường dân sự tháng 8/2012.
Quyết định số 02/2019/QĐ-TA ngày 13/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng. Chấp hành xong tháng 9/2020.
Bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 10/01/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt)
- Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1975. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà B, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
+ Anh Trần Tuấn Đ, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà H, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 04/01/2024, Bùi Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xám đen, biển kiểm soát 17B2 - 108.18 từ nhà đến khu V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 túi ma túy với giá 1.000.000 đồng, H cất số ma túy trên vào túi quần bên trái của H đi tìm nơi sử dụng. Đến 13 giờ, H đi đến đường số B khu tái định cư V thuộc thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an tỉnh T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Tuấn K và ông Trần Tuấn Đ, H đã tự giác lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 02 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu xanh bên trong có chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy đá H vừa mua để sử dụng cho bản thân, kiểm tra người Hanh thu giữ tại túi quần bên phải của H đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đều đã cũ, kiểm tra xe mô tô không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn H tại thôn T, xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình nhưng không phát hiện gì liên quan đến ma túy.
Bản kết luận giám định số 22/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7045 gam (không phẩy bảy nghìn không trăm bốn mươi lăm gam).
Bản Cáo trạng số 58/CT-VKSTPTB ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn H mức án từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 22/KL-KTHS.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đều đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Bùi Văn H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 04/01/2024, tại đường số B thuộc khu vực tái định cư V, thuộc thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Bùi Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7045 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
Hành vi của Bùi Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Bùi Văn H còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đều đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Bùi Văn H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu xám đen biển kiểm soát 17B2 - 108.18 quản lý của Bùi Văn H. Quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Bùi Văn H1 là bố của bị cáo (ông H1 đã chết), chiếc xe trên được để lại cho gia đình sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả chiếc xe trên cho chị Hà Thị B (là vợ của bị cáo), chị B đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Bùi Văn H khai mua tại khu vực cầu C, phường Q, thành phố T của một đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 04/01/2024).
Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Bùi Văn H hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì, bên ngoài ghi số 22/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu xanh đen đều đã qua sử dụng.
(Vật chứng, tài sản đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/3/2024).
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7045 gam
