Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày 15/8/2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

(nợ hụi)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Hoàng Tha

Ông Nguyễn Thanh Rực

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như -Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2024/TLST-DS ngày 03/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi (nợ hụi)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-DS ngày 26/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số C ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Võ Thị Phương M, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số A ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọc T trình bày:

Do quen biết với nhau nên bà T có tham gia chơi 02 dây hụi do bà M tổ chức khui hụi (đầu thảo), cụ thể như sau:

Dây thứ nhất, vào ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch), bà T tham gia chơi 02 phần hụi, hụi 05 ngày mở hụi và góp hụi 01 lần, dây hụi có 60 phần hụi còn bao nhiêu hụi viên thì bà T không biết rõ, hụi có mệnh giá là 200.000 đồng/phần hụi, hụi có lãi vào mỗi kỳ mở hụi thì bà M hưởng hoa hồng (tiền đầu thảo) là 200.000 đồng, dây hụi này thì bà T chưa lĩnh hụi, bà T góp hụi được 38 kỳ thì bà M đình hụi nên số tiền bà M còn nợ của bà T là 200.000 đồng/phần hụi x 02 phần x 38 kỳ hụi = 15.200.000 đồng.

Dây thứ hai, cũng vào ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch), bà T tham gia chơi 01 phần hụi, hụi 05 ngày mở hụi và góp hụi 01 lần, dây hụi có 60 phần hụi còn bao nhiêu hụi viên thì bà T không biết rõ, hụi có giá là 200.000 đồng/phần hụi, hụi có lãi vào mỗi kỳ mở hụi thì bà M hưởng hoa hồng (tiền đầu thảo) là 200.000 đồng, dây hụi này thì bà T chưa lĩnh hụi, bà T góp hụi được 38 kỳ nên số tiền bà M còn nợ của bà T là 200.000 đồng/phần hụi x 01 phần x 38 kỳ hụi = 7.600.000 đồng.

Mặt khác, bà T còn chầu (chồng) tiền hụi cho bà M ở dây hụi thứ nhất 18.000.000 đồng là 02 phần hụi, khi hụi kết thúc thì bà T được lĩnh là 24.000.000 đồng nhưng bà M vẫn không thanh toán cho bà T.

Ngoài ra, số tiền đầu thảo là do bà M và các hụi viên tự thỏa thuận, bà M có làm cuốn sổ ghi tên hụi viên, số phần hụi, ngày hốt hụi nhưng không có làm phơi hụi hay biên nhận cho các hụi viên, cuốn sổ của bà M chỉ ghi tên mà không có địa chỉ nơi cư trú cụ thể của hụi viên, không có lập văn bản thỏa thuận giữa chủ hụi với các hụi viên về việc khui hụi và lĩnh hụi, các lần bà T đóng hụi thì đến nhà của bà M để đóng trực tiếp cho bà M, việc đóng hụi thì không có lập các biên nhận thể hiện việc giao nhận tiền góp hụi. Khi tiến hành khui hụi thì bà M có tổ chức bỏ thăm khui hụi, ai bỏ thăm cao thì lĩnh hụi. Bà T thừa nhận chỉ tham gia chơi 02 dây hụi nêu trên mà không tham gia bất kỳ dây hụi nào của bà M.

Nay bà Thương yêu cầu giải quyết buộc bà M thanh toán số tiền nợ hụi của 02 dây hụi là 22.800.000 đồng và tiền nợ đã chầu (chồng) hụi là 24.000.000 đồng, tổng cộng là 46.800.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn là bà Võ Thị Phương M trình bày

Bà T có tham gia chơi 01 dây hụi khui vào ngày tháng nào thì bà M không nhớ rõ chỉ nhớ khoảng năm 12/2020 dương lịch, dây hụi do bà M làm đầu thảo, hụi 05 ngày mở hụi 01 lần, hụi có lãi, dây hụi có 60 phần hụi và có 60 hụi viên tham gia, bà T tham gia chơi 01 phần hụi, dây hụi này đóng đến kỳ thứ 38 thì bà M đình hụi do dịch Covid-19, bà T góp hụi được 38 kỳ, đối với phần hụi của bà T đang là hụi sống với số tiền là 4.000.000 đồng và bà M đã thanh toán xong nên không nợ tiền hụi của bà T. Nay bà M không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà T vì không có nợ tiền hụi gì của bà T, còn bà T khởi kiện thì đề nghị cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà M còn nợ hụi.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Bà Trần Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Phương M cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền nợ hụi nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi (nợ hụi)” và Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến phản bác của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng,

[2.1]. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện thì bà T cung cấp 03 tờ giấy tập học sinh có ghi chữ và số, bà T thừa nhận là do bà tự ghi thể hiện việc góp hụi và khui hụi trong 02 dây hụi của bà M tổ chức mà bà T có tham gia chơi. Xét thấy, các tờ giấy tập học sinh do bà T cung cấp không thể hiện được cụ thể các lần góp hụi, số tiền góp hụi cho bà M và tên các hụi viên cùng tham gia chơi chung 02 dây hụi với bà T, cũng như các tờ giấy tập nêu trên do bà T tự ghi chú để theo dõi việc tham gia chơi hụi mà không có xác nhận của chủ hụi là bà M hoặc thỏa thuận nào khác ràng buộc trách nhiệm của bà M trong các tờ giấy hụi này.

Vì vậy, tài liệu, chứng cứ nêu trên chưa đảm bảo tính xác thực và tính khách quan của chứng cứ theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã ban hành Thông báo yêu cầu bà T cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng yêu cầu khởi kiện là có căn cứ nhưng bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo đúng nội dung yêu cầu của Tòa án. Ngoài các tài liệu, chứng cứ mà bà T đã giao nộp thì bà T không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ nào khác như biên nhận, giấy thỏa thuận góp hụi, sổ hụi hay người làm chứng, người chứng kiến sự việc hoặc họ tên hụi viên cùng tham gia chơi 02 dây hụi mà bà T đã khởi kiện để tiến hành xác minh làm rõ nên bà T chưa thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh được quy định tại Khoản 1 Điều 6, Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.” và “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”.

[2.3]. Mặt khác, bà T còn khẳng định chỉ tham gia chơi 02 dây hụi do bà M tổ chức vào ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch) mà không tham gia chơi bất kỳ dây hụi nào khác của bà M, còn bà M chỉ thừa nhận bà T chỉ tham gia chơi 01 dây hụi do bà M tổ chức vào khoảng năm 12/2020 dương lịch. Xét thấy, do bà T là người đưa ra yêu cầu buộc bà M phải thanh toán tiền nợ hụi và chầu hụi đối với 02 dây hụi ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch) nên phải có nghĩa vụ chứng minh đúng là có sự việc giao kết hợp đồng góp hụi vào thời gian trên và chứng minh được nghĩa vụ trả lại tiền nợ hụi và chầu hụi của bà M, nhưng bà T không chứng minh được vào ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch) giữa bà T và bà M có phát sinh giao dịch dân sự về hụi và còn nợ hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về họ, hụi, biêu, phường nên chưa đủ căn cứ vững chắc để Hội đồng xét xử chấp nhận lời trình bày của bà T.

[2.4]. Ngoài ra, khi tham gia chơi hụi thì bà T cũng chưa thực hiện hết các quyền của hụi viên được quy định tại Điều 13, điểm d Khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường: “Khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó.” và “Yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ”, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi là bà M đối với hụi viên là bà T.

Từ các căn cứ trên và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận toàn bộ nên phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6; Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọc T về việc yêu cầu bị đơn là bà Võ Thị Phương M thanh toán số tiền nợ hụi đối với 02 dây hụi tổ chức khui hụi ngày 20/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 22/7/2019 dương lịch) với số tiền là 46.800.000 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu án phí là 2.340.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.170.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005453 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên bà Trần Thị Ngọc T còn phải chịu án phí là 1.170.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi (nợ hụi)

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi (nợ hụi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Ngọc T về việc yêu cầu bị đơn là bà Võ Thị Phương M thanh toán số tiền nợ hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger