Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

  • Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : ông Phạm Xuân Diễn.

    Các Hội thẩm nhân dân :

    • Ông Đàm Chí Thân ;

    • Bà Vũ Thị Thanh.

  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : bà Nguyễn Thị Phương Anh, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST- HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với các bị cáo :

1. Đỗ Bá D (giới tính: nam), sinh ngày: 25/11/1977, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: khu D, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Bá H và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án:

  • + Ngày 22/5/2001, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

  • + Ngày 09/1/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

  • + Ngày 30/9/2015, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, Quảng Ninh xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn H1 (giới tính: nam), sinh ngày: 02/4/1985, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn K và bà Bùi Thị B; chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • + Ngày 28/9/2005, Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là thị xã Q), Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 tháng thử thách về tội “Trộm cắp tài sản”.

  • + Ngày 31/01/2007, Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng (nay là thị xã Q), Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

  • + Ngày 13/11/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ra Bản án số xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

  • + Ngày 04/5/2020, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã được xóa án tích.

Bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Phạm Hồng V, ông Ngô Quang C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024, tại khu C, phường N, thị xã Q, Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: thu tại túi áo ngực trái phía ngoài Hội đang mặc 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Tại cơ quan điều tra, Hội khai nhận vật chứng mà cơ quan Công an thu giữ là ma túy đá (Methamphetamine) của Hội vừa mua của Đỗ Bá D, sinh năm 1977, trú tại khu D, phường P, TP U với giá 2.200.000 đồng để sử dụng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động Iphone, màu đỏ gắn 01 sim.

Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 04/01/2024, Cơ quan điều tra bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Đỗ Bá D tại khu D, phường P, thành phố U, thu giữ: Tại túi quần đùi phía trước bên phải D đang mặc 01 gói nilon màu vàng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, dạng cục, nghi là ma túy; Tại túi quần đùi phía trước bên trái D đang mặc 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 16 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng, dạng cục, nghi là ma túy; 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, dạng cục, nghi là ma túy. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn tạm giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh gắn 01 sim.

Tại bản Kết luận giám định số 52/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định: Chất tinh thể màu trắng có trong 02 túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn H1 gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,277 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 71/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng có trong 18 túi nilon thu giữ của Đỗ Bá D gửi đi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 3,542 gam.

Quá trình điều tra, các bị cáo Đỗ Bá DNguyễn Văn H1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Khoảng 08 giờ, ngày 02/01/2024, D đi đến ngõ C, quận L, TP Hải Phòng mua của một người đàn ông (khoảng 50 tuổi không rõ tên tuổi địa chỉ) 01 túi ma túy đá khối lượng khoảng 04 gam với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D mang về nhà tự đóng gói vào các túi nilon nhằm mục đích bán cho khách để kiếm lời. Trưa ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn H1 đã gọi điện cho Đỗ Bá D hỏi mua 2.200.000 đồng ma túy đá, D đồng ý hẹn Hội đến chỗ ở của D tại tổ C, khu D, phường P, TP U để giao dịch. Tiếp đó, Hội bắt xe ôm đi đến gần nhà D rồi bảo người xe ôm đứng chờ bên ngoài, H1 đi bộ đến cổng nhà D để mua ma túy. Tại đây, D bán cho Hội 02 túi ma túy đá với giá như trên. Sau khi mua được ma túy, H1 đi xe ôm đến đoạn đường gần chùa G, phường N, thị xã Q thì xuống xe, đi bộ tìm địa điểm vắng để sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu C, phường N thì Hội bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, H1 còn khai: Trưa ngày 02/01/2024, tại cổng nhà Đỗ Bá D, Hội mua của D 01 túi ma túy đá không rõ khối lượng với giá 1.600.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, Đỗ Bá D không thừa nhận hành vi này.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đỏ đã qua sử dụng gắn 01 sim thu giữ của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đã qua sử dụng gắn 01 sim thu giữ của Đỗ Bá D là phương tiện dùng để giao dịch mua bán ma túy giữ Hội và D; 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 52/KL-KTHS và 71/KL-KTHS chuyển nhập kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 322/2024/CT-VKSQY, ngày 16/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Đỗ Bá D, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS); Nguyễn Văn H1, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Bá DNguyễn Văn H1 đều khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Người chứng kiến, ông Phạm Hồng V, ông Ngô Quang C1 đều có lời khai xác nhận việc trưa ngày 04/01/2024, tại khu C, phường N, thị xã Q, hai ông được mời chứng kiến việc Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng; đề nghị HĐXX áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đỗ Văn D1; điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn H1, xử phạt bị cáo Đỗ Bá D từ 8 năm đến 9 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; truy thu của bị cáo D 2.200.000đồng để sung ngân sách nhà nước; tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo, tiêu hủy thẻ sim.

Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng đã truy tố đúng người đúng tội và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Bá DNguyễn Văn H1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố:

Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, Biên bản kiểm tra dữ liệu điện tử, Bản ảnh nhận dạng, Bản ảnh vật chứng, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định... đủ cơ sở để HĐXX kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 04/01/2024, tại khu D, phường P, thành phố U, Đỗ Bá D có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn H1 1,277 gam ma túy loại Methamphetamine với giá 2.200.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu giữ của D 3,542 gam ma túy, loại Methamphetamine tàng trữ nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu C, phường N, thị xã Q, Nguyễn Văn H1 có hành vi tàng trữ 1,277 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục địch sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng số 322/CT-VKSQY, ngày 16/4/2023 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Đỗ Bá DNguyễn Văn H1 là có căn cứ pháp luật.

Hành vi của Đỗ Bá D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS; hành vi của Nguyễn Văn H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, nhất là các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy trên địa bàn ngày càng diễn biến phức tạp. Để góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi hiểm họa về chất ma túy trên địa bàn và giáo dục cải tạo các bị cáo, cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, với những chứng cứ nêu trên, HĐXX thấy có đủ căn cứ pháp luật để xét xử bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, (bị cáo D bị truy tố theo tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm nên không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; mẹ đẻ bị cáo D được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên HĐXX cũng xét thấy bị cáo D mặc dù đã áp dụng tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm xong D có nhiều tiền án với mức án cao đều về tội cướp tài sản, bị cáo H1 tuy không có tiền án song có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt tù về các tội danh khác nhau. HĐXX xét với tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo chính bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, HĐXX thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với các đối tượng đã bán ma tuý cho Đỗ Bá D quá trình điều tra không xác định được con người, lai lịch cụ thể không có căn cứ xử lý, HĐXX không đề cập.

[4] Về vật chứng của vụ án: mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Nguyễn Văn H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Đỗ Bá D là phương tiện dùng để giao dịch mua bán ma túy giữa Hội và D cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 02 thẻ sim gắn theo 02 điện thoại di động thu giữ của hai bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 2.200.000đồng bị cáo D bán ma túy cho Hội mà có, cần truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo D.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đỗ Bá D.

Căn cứ điểm điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn H1.

Tuyên bố: bị cáo Đỗ Bá D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đỗ Bá D 8 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

Xử phạt: Nguyễn Văn H1 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 52 /KL-KTHS ngày 10/01/2024 và đựng trong phong bì niêm phong số 71/KL-KTHS ngày 11/01/2024 và tịch thu tiêu hủy hai thẻ sim gắn ở hai điện thoại di động được bàn giao trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, ngày 10/5/2024.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, những vật chứng này có đặc điểm và tình trạng kỹ thuật như được giao trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, ngày 10/5/2024.

Truy thu bị cáo Đỗ Bá D 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 11/4/202430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Buộc các bị cáo Đỗ Bá D, Nguyễn Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;

  • - VKSND thị xã Quảng Yên;

  • - Công an thị xã Quảng Yên;

  • - Sở tư pháp Quảng Ninh;

  • - Trại tạm giam CA tỉnh;

  • - Bị cáo;

  • - Thi hành án dân sự, HS;

  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Bá Dũng mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn Văn Hội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger