Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phạm Thị Bích Ngọc
  • Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 754/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 878/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hải A; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D T, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số E T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Ông Cao Quang T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D T, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số E T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 15/01/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Đỗ Thị Hải A trình bày:

Bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 05/02/2007. Đến nay có hai con chung.

Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, cách sống, hai bên thường xảy ra cãi vã, cuộc sống gia đình căng thẳng nặng nề. Ông T là người mắc nợ nần ngoài xã hội nhưng bà Hải A lại nhiều lần bị chủ nợ gọi điện đòi nợ hoặc đến nhà gây rối. Bà Hải A cũng đã nhiều lần trả nợ cho ông T nhưng không được chia sẻ nợ nần vì lý do gì. Sự việc lặp đi lặp lại nhiều lần khiến bà mệt mỏi, ngột ngạt. Từ tháng 8 năm 2022 đến nay hai bên đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai dù vẫn chung sống một nhà. Nay bà Hải A xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông T.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Cao Ngọc Hà M, sinh ngày 04/7/2007 và Cao Quang B, sinh ngày 29/02/2012. Bà Hải A đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được nuôi cả hai con chung đến khi các con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Hải A trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 12/3/2024 và biên bản hòa giải ngày 25/7/2024, ông T trình bày như sau:

Ông đồng ý với phần trình bày của bà Hải A về điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Ông T thừa nhận cuộc sống vợ chồng có những bất đồng, xích mích nhỏ nhưng có thể tự giải quyết, chưa đến mức phải ly hôn. Ngoài ra, con chung Cao Quang B bị mắc bệnh tự kỷ nên rất cần sự quan tâm chăm sóc của cả bố và mẹ. Ông T vẫn yêu thương vợ con, vẫn muốn lo cho gia đình, không muốn gia đình tan vỡ. Trong trường hợp bà Hải A kiên quyết ly hôn, ông T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về vấn đề con chung và tài sản chung, ông T không có quan điểm nào.

Tại biên bản xác minh tại gia đình và địa phương nơi cư trú cho thấy: Quá trình chung sống, bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T nảy sinh nhiều mâu thuẫn do ông T nợ nần dẫn đến việc hai bên thường xảy ra cãi vã. Việc bị các chủ nợ đến nhà đòi nợ gây phiền nhiễu trong sinh hoạt của gia đình.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng; bị đơn chấp hành không đầy đủ các quy định về tố tụng.

Về nội dung quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T kết hôn từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 05/02/2007 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên nảy sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng năm 2022 đến nay do bất đồng quan điểm về kinh tế nên hai bên thường xảy ra cãi vã. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Hải A, giải quyết cho bà được ly hôn ông Cao Quang T. Về con chung: Bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T có hai con chung là Cao Ngọc Hà M, sinh ngày 04/7/2007 và Cao Quang B, sinh ngày 29/02/2012. Hiện nay cả hai con đều đang do bà Hải A nuôi dưỡng. Cháu Hà M có đơn trình bày được sống với mẹ. Đối với cháu B, bà Hải A xuất trình Quyết định về việc trợ cấp xã hội của Ủy ban nhân dân quận H số 200/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 cho thấy cháu là “Người khuyết tật nặng là trẻ em”. Do vậy cần thiết giao cả hai con cho bà Hải A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, bà Hải A không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản chung: Bà Hải A trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Bà Hải A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự và xác minh của Tòa án thể hiện: Ông Cao Quang T, sinh năm 1981, đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D T, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng, có nơi ở tại: Số E T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  2. Tại phiên tòa, bà Đỗ Thị Hải A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Cao Quang T vắng mặt lần thứ 2 dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2007 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 05/02/2007 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
  2. Quá trình chung sống: Qua trình bày của đương sự và xác minh tại địa phương, đại diện gia đình cho thấy bà Hải A và ông T nảy sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 8/2022 mặc dù vẫn sống chung một nhà. Nguyên nhân do ông T mắc nợ nần, các chủ nợ thường xuyên gọi điện đòi nợ, đến tận nhà gây rối, uy hiếp làm đảo lộn cuộc sống gia đình lộn. Bà Hải A nhiều lần phải trả nợ cho ông T, sự việc lặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến cuộc sống vợ chồng ngột ngạt, mệt mỏi, mất niềm tin vào nhau, không thể tiếp tục chung sống. Cảnh sát khu vực nơi gia đình bà Hải A và ông T sinh sống đã phải can thiệp và có những biện pháp bảo đảm an ninh trật tự khu phố. Tại Toà án, ông T trình bày vẫn còn tình cảm với vợ và mong hàn gắn gia đình, không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên trên thực tế ông T không có biện pháp nào cải thiện cuộc sống và tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Xét thấy vợ chồng đã không còn khả năng đoàn tụ, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc bà Hải A yêu cầu được ly hôn ông T là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  3. Về con chung: Bà Đỗ Thị Hải A và ông Cao Quang T có hai con chung là Cao Ngọc Hà M, sinh ngày 04/7/2007 và Cao Quang B, sinh ngày 29/02/2012. Cháu Hà M có đơn trình bày nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Tại Quyết định về việc trợ cấp xã hội của Ủy ban nhân dân quận H số 200/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 cho thấy cháu Cao Quang B là “Người khuyết tật nặng là trẻ em” nên không có đơn trình bày nguyện vọng về việc sống với bố hay với mẹ. Hiện nay cả hai con đều đang sống với bà Hải A.
  4. Quá trình giải quyết vụ án, ông T do không đồng ý ly hôn, không có quan điểm về việc nuôi con. Tuy nhiên trên cơ sở đánh giá những tài liệu chứng cứ mà Toà án thu thập cho thấy xuất phát từ nguyên nhân chính gây mâu thuẫn vợ chồng là do ông T gặp những vấn đề bất ổn về tài chính, cuộc sống gia đình bị đảo lộn do bị các chủ nợ liên tục làm phiền, uy hiếp. Do vậy, việc đảm bảo cho các con chung có một cuộc sống yên ổn là cần thiết. Hơn nữa, cháu Cao Quang B là trẻ em khuyết tật nặng cần được hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc của gia đình nhiều hơn. Do vậy, việc giao cả hai con chung cho bà Hải A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và các quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  5. Về tài sản chung: Bà Hải A trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  6. Về án phí: Bà Đỗ Thị Hải A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 228; Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đỗ Thị Hải A ly hôn ông Cao Quang T.
  • Về con chung: Giao cả hai con chung Cao Ngọc Hà M, sinh ngày 04/7/2007 và Cao Quang B, sinh ngày 29/02/2012 cho bà Đỗ Thị Hải A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

  • Về án phí: Bà Đỗ Thị Hải A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hải A đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005775 ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND p. Minh Khai, q. Hồng Bàng, tp. Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 05/02/2007);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Hải Anh- Thành
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger