Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hinh

Ông Nguyễn Xuân Nghị.

-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh-Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 47/20024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Sinh năm: 1995; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1956; Con bà: Hà Thị T, sinh năm: 1962. Có vợ là Nguyễn Hoàng L, sinh năm: 2000. Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 27/9/2022, bị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/8/2023, chấp hành xong hình phạt, chưa được xoá án tích.

- Nhân thân:

  • + Ngày 18/12/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã được xoá án tích.
  • + Ngày 14/7/2017, bị Công an phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024 đến ngày 17/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: - Anh Đặng Trung K, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

- Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

- Anh Ngô Văn T1, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa, anh K, anh H, anh T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, biển kiểm soát 33K5-7005 sang nhà và rủ anh Hà Văn T2, sinh năm 1989, ở cùng xóm đến nhà anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N để lấy tiền nợ, anh T2 đồng ý. Bị cáo điều khiển xe mô tô chở anh T2 ngồi sau; Khi đến nơi anh T3 không có nhà nên bị cáo điều khiển xe mô tô đi ra sân bóng đá nhân tạo thuộc thôn Đ, xã T, huyện N để đợi. Bị cáo đi bộ một mình vào khu vực ngồi nghỉ của sân bóng để xem mọi người đá bóng còn anh T2 ra khu vực tập thể dục ở phía ngoài sân. Lúc này, bị cáo quan sát thấy gần vị trí ngồi có 01 balo không cài khóa bên trong có 03 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng của anh Đặng Trung K; 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu đen của anh Nguyễn Quốc H, và 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu vàng của anh Ngô Văn T1. Bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên lén lút lấy 03 chiếc điện thoại di động trên cất giấu trong người và để lại chiếc balo tại sân bóng rồi đi ra lấy xe mô tô và gọi anh T2 đi về. Bị cáo không nói cho anh T2 biết việc mình lấy trộm được 03 chiếc điện thoại trên. Về đến nhà, bị cáo tắt nguồn và cất giấu 03 chiếc điện thoại trộm cắp được ở nhà. Đến tối ngày 08/6/2024, bị cáo bật nguồn 03 chiếc điện thoại trộm cắp được rồi điều khiển xe mô tô đi sang huyện V, tỉnh Thái Bình với mục đích bán 03 chiếc điện thoại trên để lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến trước 01 cửa hàng điện thoại, bị cáo chưa kịp đem điện thoại vào bán thì gặp anh Ngô Văn T1, anh Nguyễn Quốc H và anh Đặng Trung K. Biết hành vi của mình bị phát hiện nên bị cáo đã trả lại 03 chiếc điện thoại cho anh T1, anh H và anh K. Sau đó, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên ngày 11/6/2024, bị cáođã đến Công an huyện N xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật. Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng có ốp nhựa màu xám, đã qua sử dụng có số IMEI 356772084575863; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, có ốp nhựa màu xám, đã qua sử dụng có số IMEI 352841114153985; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng có ốp nhựa màu vàng, đã qua sử dụng có số IMEI 359330189651522; 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, màu nâu, biển số 33K5-7005, số khung 1098028, số máy 00237328 đã qua sử dụng và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hà Tiến B.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trên thị trường là 12.000.000 đồng; Giá trị thiệt hại của 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trên thị trường là 5.000.000 đồng; Giá trị thiệt hại của 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trên thị trường là 1.200.000 đồng. Tổng cộng 18.200.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho anh Đặng Trung K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng, trả lại cho anh Nguyễn Quốc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen và trả lại cho anh Ngô Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng. Anh K, anh H và anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL, màu nâu, biển số 33K5-7005. Quá trình điều tra xác định là xe của chị Nguyễn Hoàng L (vợ của bị cáo). Tháng 01/2024, chị L mua chiếc xe máy trên của ông Hà Tiến B, sinh năm 1976, trú tại xã L, huyện P, thành phố Hà Nội. Ngày 07/6/2024, chị L không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị L chiếc xe trên cùng 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hà Tiến B.

Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 01 năm tù 06 tháng đến 02 năm tù.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của các bị hại, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 11/6/2024, Kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N...Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/6/2924, tại khu vực sân bóng nhân tạo thuộc thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 03 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng trị giá 1.200.000 đồng của anh Đặng Trung K; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu đen trị giá 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Quốc H và 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu vàng trị giá 12.000.000 đồng của anh Ngô Văn T1. Tổng trị giá ba chiếc điện thoại là 18.200.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an để đầu thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội cũng như răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh K, anh H và anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[6] Đối với anh Hà Văn T2 và chị Nguyễn Hoàng L: Quá trình điều tra xác định anh T2 không biết việc Nguyễn Văn Đ trộm cắp tài sản, chị L không biết việc Đ sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL biển số 33K5-7005 của chị để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đặt ra vấn đề xử lý đối với anh T2 và chị L là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K, anh H và anh T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt Nguyễn Văn Đ 01(Một) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 11/6/2024.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K, anh H và anh T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Toà án nhân dân tỉnh;
  • - VKS nhân dân huyện Nam Trực;
  • - Công an huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - UBND xã N;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger