TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày: 12-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Trị và ông Phạm Quốc Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1995 tại huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Phùng Thị Mai N1, sinh năm 1967; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: xấu:
- - Ngày 28/12/2016 bị công an huyện V, tỉnh Khánh Hòa xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
- - Ngày 01/07/2024 bị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST (bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác tại Trại giam Đ – Bộ C1 theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 141/2024/QĐ-CA ngày 08/08/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà về tội giết người, hình phạt 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 12 năm 2023, được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 17/12/2021 đến ngày 09/08/2022.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại.
Trần Văn H1, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Trú tại: khối H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người làm chứng:
- Trần Đình L, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Trú tại: khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. - Nguyễn Quốc M, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Trú tại: khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. - Nguyễn Văn T, sinh năm 1998 (vắng mặt);
Trú tại: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. - Nguyễn Xuân D, sinh năm 1973 (vắng mặt);
Trú tại: khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định. - Vũ Như Q, sinh năm 1978 (vắng mặt);
- Trần Thị N2, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Đồng trú tại: A Q, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2019, Nguyễn Anh T1 (SN: 1997), tên thường gọi là Tý C ở T, V, V, Khánh Hòa được Dương T2 (SN: 1996) ở T, V, Khánh Hòa rủ ra T làm cho Nguyễn Văn L1, tên thường gọi là Tý L2 ở P, T, T, Bình Định. Trong thời gian làm cho Tý L2, T1 đã quen biết với Trần Đình L (SN: 1991), ở Khối A, thị trấn P, T, Bình Định. Khoảng đầu tháng 12/2021 T1 điện thoại rủ Nguyễn Ngọc N (SN:1995), ở T, Đ, V, Khánh Hòa và Nguyễn Văn T (SN:1998), ở T, V, V, Khánh Hòa đến huyện T - Bình Định để làm ăn. Khi N, T đến T thì T1 dẫn N, T đến ở tại nhà L. Sau đó, trong một lần L tổ chức nhậu cùng với T1, N, T và Nguyễn Quốc M (SN: 1993) ở Khối P, thị trấn P, T, Bình Định L và M kể lại sự việc trước đó đã bị một số đối tượng trên địa bàn chém gây thương tích. Cho rằng các đối tượng này là đàn em của Trần Văn H1 (SN: 1983) ở khối H, thị trấn P, T, Bình Định (tên thường gọi là Ba T3) nên L nhờ N, T, T1 đánh lại H1 để trả thù và hứa hẹn sẽ tìm việc làm, cho tiền tiêu xài. Lạc đưa hình ảnh của H1 và một số đối tượng cho T1, N, T xem để đánh, tất cả đồng ý. Sau đó, T1 mua 03 con dao Thái Lan, dài khoảng 20cm có cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi có mũi nhọn và đưa cho N, T mỗi người một con dao để mang theo sử dụng đánh H1.
Khoảng 19 giờ ngày 09/12/2021, M điều khiển xe mô tô (Chưa rõ biển số) chở T1 đi dạo, khi đến trước quán C2 thuộc Khối P, thị trấn P, T, Bình Định phát hiện xe ô tô của H1 đậu cạnh quán. Cả hai về nhà gặp L kể lại sự việc, L nói Mỹ quay lại kiểm tra nên M chở T quay lại quán C2, Mỹ đọc biển số xe của H1 cho L xác nhận, xong M chở T quay lại nhà L. Lúc này có L, N, T đang ở nhà và để sẵn hung khí là dao tự chế ở cổng nhà Lạc. Nguyên, T1 lấy mỗi người một con dao thái lan đã dùng dây vải quấn một phần quanh lưỡi dao, để lộ phần mũi dài khoảng 3cm, mục đích để gây thương tích cho H1. L nói T1 và N vào đánh H1, T và M đứng ngoài cảnh giới. Sau đó, M điều khiển xe surius chở T, T1 điều khiển xe mô tô loại xe Ware biển số 77M2- 9959 chở N đến quán C2 dừng xe cách quán khoảng 10m. M chỉ H1 cho N, T1 biết và đứng tại vị trí xe mô tô cùng T. T1 và N đi vào bên trong quán G để tiếp cận H1. Lúc này, H1 đang ngồi uống cà phê với một người bạn. Nguyên ra phía sau bên trái H1 dùng dao đâm ngang 1 nhát vào hông trái của H1, H1 dùng tay gạt làm rớt dao. H1 lùi lại sau thì bị T1 đứng sau lưng dùng dao đâm liên tiếp 2-3 nhát từ trên xuống vào người Hùng. N lấy con dao dưới đất đến đối diện H1 đâm ngang liên tiếp 4-5 nhát vào người Hùng. Bị đâm, H1 bỏ chạy vào quầy tính tiền, N3 và T1 đuổi theo nhưng được chủ quán ngăn cản nên N và T1 bỏ đi. M và T nghe tiếng ồn nên cầm dao chạy vào đến cổng phụ thấy N và T1 chạy ra, N hô rút nên cả nhóm ra đến vị trí xe mô tô. M chở T1, T chở N chạy về hướng đông. Khi đi đến đoạn xã T, T1 gọi điện cho L nên L nói cả nhóm đi xuống TP .. Khi đến công viên (không rõ địa chỉ), N, T1, T, M lấy hung khí cất giấu và vào quán ven biển uống cà phê chờ Lạc đến.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, L cùng Võ Thanh V (SN: 1989 - tên thường gọi là Tý Minh V1) ở P, T, T, Bình Định đi taxi đến gặp và rủ cả nhóm đi nhậu. Trong lúc nhậu, V1 đưa cho T1 số tiền 10.000.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T1, N, T điều khiển hai xe mô tô trên về huyện V, Khánh Hòa thuê phòng trọ sử dụng ma túy. Lạc, V1 và M nhậu xong đi xe taxi (không rõ biển số) về lại T. Đến ngày 15/12/2021, do nghi ngờ T1 chỉ vị trí nhà mình cho nhóm H1 biết nên N đã dùng rựa chém T1 chết và chôn xác của T1 tại T, V, V, Khánh Hòa. Ngày 21/12/2021, Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh K đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Ngọc N về tội Giết người.
Hậu quả: H1 bị thương, cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T đến ngày 20/12/2021 thì xuất viện.
Theo bản kết luận số: 02/2022/PY-TgT, ngày 18/01/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B: Trần Văn H1 bị vết thương lóc da cơ vùng đỉnh thái dương trái lộ vòm sọ, đã khâu vết thương điều trị. Hiện vùng đỉnh thái dương trái vết thương để lại sẹo rõ, dính kích thước (8 x 3)cm; Vết thương vùng cơ delta phải gây đứt gân cơ delta đã khâu cơ, điều trị. Hiện vùng cơ delta phải để lại sẹo kích thước (2 x 0,2)cm; vết thương vùng cơ delta trái đã điều trị. Hiện mặt trước 1/3 duwis cẳng tay trái (theo thực tế giải phẩu) để sẹo kích thước (01 x 0,2)cm, vận động cổ tay bình thường. Các vết thương vùng lưng, xương bả vai hai bên đã điều trị. Hiện để sẹo: vai trái gồm 02 sẹo kích thước (06 x 2,5)cm và (05 x 0,4)cm, bả vai trái để lại sẹo kích thước (1,5 x 0,5)cm, bả vai phải để lại sẹo kích thước (1,5 x 0,5)cm. Tổn hại 16% sức khỏe.
Ngày 22/6/2022, Trung tâm P kết luận số 140/KLGĐ: Về y học, N bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F19.5-ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, N bị hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Ngày 02/08/2022 bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Ngày 12/12/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện T đã quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Nguyễn Ngọc N tại thời điểm gây thương tích 09/12/2021. Ngày 23/11/2022 Viện pháp y tâm thần trung ương B có kết luận giám định pháp y tâm thần số 747/KL-VPYTW: Về y học, Nguyễn Ngọc N bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng các chất kích thích (F15.71 –ICD 10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tại thời điểm gây án đương sự bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ngày 24/11/2023, Viện pháp y tâm thần trung ương B số kết luận số 879/KLBB-VPYTW: Nguyên bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F15.71 – ICD 10). Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết phải điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật; Ngày 29/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 04/QĐ đối với N. Ngày 29/11/2023, cơ quan CSĐT Công an tỉnh K đã phục hồi điều tra vụ án đối với bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 01/12/2023.
Tại Bản cáo trạng số 23/CT – VKSTS ngày 09/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên đề nghị không xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, không có ý kiến tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện:
Xuất phát từ việc cho rằng nhóm của anh Trần Văn H1 ở khối H, thị trấn P, T, Bình Định đánh mình gây thương tích trước đó nên Trần Đình L đã khởi xướng, rủ rê Nguyễn Ngọc N, Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T1 đều không quen biết và mâu thuẫn gì với H1 và Nguyễn Quốc M đánh lại H1 để trả thù, tất cả đều đồng ý. Vào tối ngày 09/12/2021, M và T1 đi dạo phát hiện anh H1 đang uống cà phê với bạn tại quán C2 thuộc khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. M đã báo cho L biết, L nói M quay lại quán đó để xác nhận xe của H1. Sau khi xác nhận đúng người ngồi trong quán là H1 nên khi M chở T quay về nhà L, L chuẩn bị dao tự chế, xe mô tô cho đồng phạm đi đánh H1 và nói N và T1 vào đánh, còn M và T đứng cảnh giới. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, M chở T cầm dao tự chế, T1 chở N cầm dao thái lan đi đánh H1. Đến nơi cả nhóm dựng xe cách quán Sinh vật cảnh khoảng 10m, Mỹ và T đứng ngoài cổng để cảnh giới cho N và T1 vào đánh H1. Lúc này, H1 đang ngồi uống cà phê với một người bạn trong quán. Nguyên ra phía sau bên trái H1 dùng dao đâm ngang 01 nhát vào hông trái của H1, H1 dùng tay gạt làm rớt dao. H1 lùi lại sau thì bị T1 đứng sau lưng dùng dao đâm liên tiếp 2-3 nhát từ trên xuống vào người Hùng. N lấy con dao dưới đất đến đối diện H1 đâm ngang liên tiếp 4-5 nhát vào người Hùng. Bị đâm, H1 bỏ chạy vào quầy tính tiền của quán, N và T1 đuổi theo nhưng được chủ quán ngăn cản nên N và T1 bỏ đi. Hậu quả: anh Trần Văn H1 bị thương với tỷ lệ thương tật là 16 %.
[2.2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đối với Trần Đình L, Nguyễn Quốc M, Nguyễn Văn T đã được xét xử tại Bản án số 10/2023/HS-ST ngày 15/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cố ý gây thương tích” với 02 tình tiết định khung là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự với tỷ lệ thương tật của bị hại Trần Văn H1 là 16% nên đã phạm vào quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn truy tố là có căn cứ.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện tính chất côn đồ, xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc của khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 01/07/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người” (bản án đã có hiệu lực pháp luật). Hiện nay bị cáo Nguyễn Ngọc N đang chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C1 theo Quyết định thi hành án hình phạt tù số 141/2024/QĐ-CA ngày 08/08/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà. Như vậy, Bản án số 58 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã có hiệu lực pháp luật nhưng không cùng cấp nên sẽ được Toà án cấp cao hơn tổng hợp hình phạt trong giai đoạn thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với bản án mới, để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
[5] Xét vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó:
- - Vai trò của Trần Đình L và đồng phạm đã được xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
- - Bị cáo Nguyễn Ngọc N thể hiện vai trò là người thực hành, trực tiếp sử dụng dao Thái Lan gây thương tích cho Trần Văn H1 nên mức hình phạt bị cáo tương xứng vai trò bị cáo tham gia.
[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- [6.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
- [6.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- [6.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.
[8] Về án phí:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Ngọc N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cố ý gây thương tích".
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
3. Về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Đã giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tây Sơn (bản án đã có hiệu lực pháp luật) nên không xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng;
5. Về quyền kháng cáo:
Báo cho bị cáo và đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Trọng |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc N phạm tội cố ý gây thương tích
